binho243
New member
BẮP, NGÔ
MỘT CÂY LƯƠNG THỰC QUAN TRỌNG
Bắp non đem nướng than hồng,
Khó ai quên được bờ Hồ Xuân Hương.
Khó ai quên được bờ Hồ Xuân Hương.
Ca dao
- trích Nghiên cứu và Phát triển 2(40) 2003 -
Võ Quang Yến
6[FONT=Verdana, Arial, Helvetica, Geneva, sans-serif] tháng 1 năm 2005[/FONT]
[FONT=Verdana, Arial, Helvetica, Geneva, sans-serif][/FONT][FONT=Verdana, Arial, Helvetica, Geneva, sans-serif][SIZE=-1]
[/SIZE][/FONT]
Không cần phải ở Đà Lạt mới thưởng thức được mùi thơm ngào ngạt của những hột bắp nướng. Tôi chắc từ nhỏ, trẻ em ở vùng nào trong nước ta cũng đã từng chạy theo những trái bắp hoặc nướng trên than hoặc chỉ nấu trong nước. Nướng hay nấu, bắp có trạng thái đặc cứng khác nhau, mùi vị riêng biệt của một thức ăn điền dã mà chắc lớn lên mấy ai quên được. Có nơi ăn bắp non với mỡ hành. Tôi thì nhớ mãi chén chè bắp non ngon ngọt mà mỗi khi đi học xa về, mẹ tôi để dành cho một vài chén bù vào những miếng cơm độn bắp già cứng nhắc những năm 40, nhai mãi không nuốt được... Tuy vậy, được mùa chớ phụ bắp, khoai,... dân ta đã từng biết đói, đâu có quên ơn thức ăn những ngày khó khăn.
Dù sao có thể hiểu bắp là từ Trung Quốc mà qua nước ta. Nhưng chưa biết từ đâu mà bắp đem sang Trung Quốc. Rất có thể những người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha mang nó từ Nam Mỹ trước về châu Âu, sau qua châu Phi, châu Á. Ngày nay người ta biết bắp là từ một giống mọc hoang được đem về trồng và ghép lai hơn nhiều ngàn năm nay. Nó là ngũ cốc được chọn lựa, thí nghiệm, thay đổi tính di truyền nhiều nhất. Sở dĩ nguồn gốc của nó được bàn cải xôn xao vì một đằng đó là một dịp cho các nhà di truyền học và thảo mộc học khảo cứu sự hiện hình hiếm có của một giống cây mới, đằng kia tìm hiểu cách trồng trọt và chọn giống là học hỏi sự phát triển của một dân tộc. Đề tài nầy tất nhiên huy động nhiều giới khảo cứu viên đủ ngành. Từ cuối thế kỷ 19, nhà thảo mộc học Thụy Sĩ Alphonse de Candolle đã làm bản kê khai những vùng nguyên gốc cây được trồng. Đầu thế kỷ 20, một nhà thảo mộc khác, Nicolai Ivanovitch Vavilov, người Nga, chạy tìm khắp thế giới những cây có ích trồng được. Chính ông đã hiểu nguồn gốc một cây là ở nơi có nhiều loại cây ấy nhất và xác định bắp phải bắt nguồn từ miền Trung Mỹ. Sau Vavilov, nhiều nhà thảo mộc Mỹ lưu tâm đến đề tài và đưa giả thuyết bắp là từ giống hoang teosinte (từ tiếng Azteque teocentli ), tức Euclania mexicana, một cây rơm cỏ mọc ở Mexico và Guatemala mà lại (1). Vào giữa thế kỷ 20, nhà di truyền học George Beadle, cộng tác với R.A. Emerson ở Viện Đại học Cornell, cho giao hợp hai cây ấy và đạt được nhiều giống lai có khả năng sinh sản. Cũng vào thời ấy, Paul Mangelsdorf ở Viện Đại học Chapel Hill (North Carolina), cho bắp quá khác teosinte để có thể từ giống ấy mà ra (2). Theo ông, nguồn gốc bắp phải từ một giống hoang có hình thái giống bắp hơn còn teosinte có thể là một cây lai giữa bắp và một giống sơ khai gọi là Tripsacum. Cuộc tranh luận bắt đầu từ đây.
Không bào chữa ngay giả thuyết teosinte, Beadle bỏ công khảo cứu những quan hệ cơ bản giữa DNA và những protein mà kết quả đưa ông đến giải Nobel sinh lý và y học năm 1958. Trong lúc ấy, cộng tác với nhà khảo cổ học Richard McNeish, Mangelsdorf chạy tìm kiếm những bằng chứng cho những khẳng định của mình. McNeish quan tâm đến nguồn gốc canh nông ở châu Mỹ và cuộc thăm dò đưa ông đi lục soát những hang động, những hầm trú ẩn trong hóc đá. Năm 1963, khám phá đặc sắc nhất của ông tại Coxcatlan và San Marcos ở hai thung lũng Tehuacan và Oaxaca là khoảng 100 mảnh bông bắp để lại từ năm 5600 trước Công nguyên. Cạnh đấy, cũng ở miền Nam Mexico, thung lũng Balsas thì lại cống hiến những mẫu hoang teosinte. Theo họ, rõ ràng bắp ngày xưa tuy nhỏ hơn bắp ngày nay, cả hai giống nhau về mặt hình thái : trục (rachi) cứng mang nhiều hàng hột, mày (glume) hột mềm; trái lại, trục teosinte mềm dẻo, chỉ mang hai hàng hột, mày hột cứng giữ kỹ hột. Bên phần Beadle, vẫn luôn trung thành với giả thuyết của mình, năm 1970, cộng tác với những nhà sinh vật học, khảo cổ học và dân bản xứ Mexico, ông mở chiến dịch “Săn tìm đột biến teosinte” và thu lượm 70 kg mẫu hột, không chứng minh được gì, nhưng đem gieo và hợp giống những hột nầy với nhau, ông phát minh ra chỉ có năm gen thiết lập khác biệt hình thái giữa teosinte và bắp.
Trong thập niên 80, John Doebley ở Viện Đại học Minnesota, khảo cứu những biến thể trong bộ gen viên lục (chloroplaste) của teosinte và bắp và những biến dị protein của hai giống, xác nhận những kết luận của Beadle : quần thể teosinte mọc trong thung lũng Balsas không khác gì bắp xứ Mexico. Ông còn chứng minh teosinte đem trồng đã cho hột thoát được đấu (cupule) gắn nó vào trục và ra khỏi mày cứng cầm tù nó. Năm 1989, cộng tác với Austin Long ở Viện Đại học Arizona, Bruce Benz ở Viện Đại học Wesleyan (Texas), ông bỏ công kiếm những bằng chứng cuộc thuần dưỡng teosinte về mặt khảo cổ học : họ chỉ tìm ra những mẫu bắp xưa 3500 năm trước Công nguyên, nghĩa là 2000 năm sau những mẫu của McNeish và nghi hoặc cách định ngày của ông nầy. Nhưng đầu năm 2001, Dolores Piperno ở Viện Smithsonian, và Kent Flannery, ở Viện Đại học Michigan, xác định được ba mẫu bắp trong một hang động ở Guila Naquitz, thung lũng Oaxaca, sống 4250 năm trước Công nguyên. Có thể xem đây là những mẫu xưa chính xác nhất tìm được ở Nam Mỹ (10). Cuộc tranh cải kéo dài rất lâu, chưa ngã ngũ rõ ràng tuy giả thuyết teosinte có phần thắng thế. Beadle vượt ra khỏi những bằng chứng khoa học, còn cống hiến những luận chứng về ngôn ngữ, tập quán : teocentli có nghĩa là “bông bắp của thượng đế “ chứng minh người Azteque thấy có liên quan giữa teosinte và bắp. Đằng khác, ở nhiều nơi trong nước Mexico, teosinte được gọi là madre de maiz nghĩa là “mẹ của bắp “, nói lên ký ức văn hóa của người dân bản xứ (3).
Ngoài phẩm chất dinh dưởng, bắp sấy khô dễ chuyên chở và tích trử lâu ngày. Nhờ nó mà những dân tộc Azteque, Maya, Inca,... lập nên được sự nghiệp to lớn vào những thế kỷ 14, 15 trước khi người Tây Ban Nha bước chân lên đất Nam Mỹ. Những kim tự tháp của người Maya ở Yucatan, những bức tường khổng lồ của dân Inca ở thành Cuzco,... đang còn đó để nói lên những bắp thịt cứng rắn của những người ăn bắp. Bắp đem nấu hay nướng rất dễ ăn, hột bắp rang cho nỗ ra ăn rất bùi miệng, đem nghiền thành bột làm bánh tráng cũng dễ chuyên chở hay cho mọc mầm ủ thành rượu nặng nhẹ tùy cách. Trong danh sách triều cống dâng cho vị vua Azteque cuối cùng Montezuma, thấy có quy định số bắp hằng năm 20 tỉnh trong vương quốc phải nộp là 300 000 thưng. Thổ dân nhập cảng bắp có thể từ miền Nam Mexico rồi cho thích nghi vào thủy thổ những vùng ôn đới, nhiệt đới ở Nam Mỹ. Vẫn biết những phương pháp chọn lựa, ghép lai hiện đại ngày nay đã tạo nên những loại bắp với năng suất vô cùng cao, thích hợp với đủ loại khí hậu, chống chỏi được nhiều bệnh tật cũng như sâu bọ, cuộc sáng tạo ra những mẫu bắp trồng với những kỹ thuật thô sơ của thổ dân châu Mỹ quả là một sự thành công xuất chúng của con người về mặt chọn lọc thảo mộc. Hơn nữa, đem cây hoang về trồng rồi cải tạo cho nó đem lại nhiều năng suất chứng minh lương tri của con người : từ cuộc sống săn-hái qua canh nông có tổ chức là một bước lớn của nhân loại, một bước tiến từ từ nhưng chắc chắn, xuất hiện cùng lúc ở nhiều chỗ trên hoàn cầu.
Trên thế giới ngày nay, với số sản xuất hằng năm khoảng 600 triệu tấn, trị giá trên 50 tỷ USD/Euro, bắp là tài nguyên canh nông đứng hạng nhì sau lúa mì. Trực tiếp hay gián tiếp nuôi 15-20% nhân loại, nó được trồng trong 70 nước, chiếm hơn 120 triệu ha, từ những nơi cao độ thấp như quanh biển Caspienne đến những vùng đồi núi vượt quá 4000m trong dãy núi Andes, từ những nơi bán-khô (lượng mưa dưới 400mm) như Trung Mỹ đến những vùng ẩm ướt (lượng mưa trên 2m) như Đông Nam Á. Sau cách thức thô sơ chọn lựa bông bắp theo những chỉ tiêu hình thái hay sinh vật học, dễ thực hiện nhưng ít có hiệu quả, ngày nay nhiều phương pháp mới hơn đã được sử dụng. Chẳng hạn phương pháp gọi là “ bông gieo theo hàng “ (épi à la ligne) dựa lên kết quả cây bắp thế hệ sau, sau hơn một thế kỷ thực nghiệm đã làm tăng dầu trong bắp từ 4,5 lên 16,6%, protein từ 10,9 lên 26,6%. Tiếp theo là các cuộc chọn lựa “ quặc ngược lũy tích “ (récurrente cumilative) hay “ quặc ngược hổ tương “ (récurrente réciproque) nhắm đạt một giống lai ưu thế (heterosis), những phương pháp “ tạp giao đỉnh ngọn “ (top-cross), “ tạp giao thuận nghịch “ (croissement diallèle) cho giao phối nhiều mẫu hòng cải thiện với những tính chất hay ho ở các mẫu khác, đưa đến những loại bắp dễ thích nghi với khí hậu hay biết chống lại được bệnh tật như chứng làm khô lá (minthosporiose)... Sau 20 thế hệ, nhiều phối hợp đã cho đạt đến 15 000 bắp lai đơn, đôi hay ba tùy theo đã dùng hai, ba hay bốn giống. Trong tương lai, dần dần những cuộc hợp lai đều được thực nghiệm trong phòng thí nghiệm. Muốn đạt được một mẫu có đủ điều kiện đem ra trồng, phải thử nghiệm khoảng 10 000 cuộc hợp lai. Có điều là ngày nay, người ta không chỉ bằng lòng với một cuộc chọn lọc hay ghép lai. Để hạ bớt số thực nghiệm, nhiều phương hướng mới đang được khảo sát : sớm dò giống lai ưu thế để hướng dẫn các mẫu, nuôi trồng viên lục nhiều loài để cho hợp nhất với nhau như táo với lê hay cà chua với khoai..., lai giống khác loài như với bắp khác xứ hay teosinte với bắp, phát sinh đột biến với hóa chất hay tia gamma,... và vận dụng di truyền (5).
Trong mục đích chống sâu bọ, tăng năng suất, chuyên gia thực hiện những cuộc chuyển đổi di truyền. Loại bắp Novartis chẳng hạn mang thêm trong cây một gen lấy từ vi khuẩn Bacillus thuringiensis, có khả năng sản sinh một độc tố. Độc tố nầy là một chất sát trùng sinh hóa học, có tính chất tiêu diệt bướm ống (pyrale) là một loại sâu cánh phấn (lepidoptere) mà ấu trùng phá phách bắp. Lợi ích loại bắp nầy là tự nó chống lại sâu bọ, không cần dùng thuốc sát trùng hóa học. Mới xem thì phương pháp thần hiệu nầy thật là sạch sẽ đối với môi trường sinh thái. Trong thực nghiệm, cây có gen mới có thể ghép lai với những loại cỏ hoang cùng loại và cho phát sinh những cỏ hoang biết chống lại sâu bọ. Điển hình là trường hợp cây cải dầu (colza) : mang gen chống chịu các chất khử trùng, nó bất thường ghép lai với cỏ hoang như loại củ cải dại (ravenelle), truyền cho cỏ nầy tính chất khử trùng và cỏ mặc sức mọc, lấn áp cải dầu ! Vẫn biết bắp không ghép lai với bất cứ loại cây nào khác mà chọn lọc những cây có bộ gen gần giống nó. Đây là lời cảnh cáo cho hội đồng ban giấy phép vì hiện bốn mẫu ngoài Novartis đang chờ đợi được khai thác ! Ngày nay ở Pháp, cây cải dầu mang gen chưa dược giấy phép cũng như cây củ cải đường mang gen vì thấy nó phối hợp với một loại củ cải đường hoang gọi là củ cải đường biển. Câu hỏi là liệu những dữ kiện khoa học, kỹ thuật có vượt trội lên trên những lợi tức kinh tế không ?
Bắp hay ngô còn được gọi má khẩu lý (Thái), hờ bo (Ba Na), mang tên khoa học Zea mays L., thuốc họ Lúa Poaceae hay Gramineae 34. Anh, Pháp thường gọi nó mais từ danh từ bắp xưa maiz, người Mỹ thì có tên corn. Nó là một cây trồng ở khắp nơi, chỉ sống một năm, cao 1-2m, lá mọc so le, hình dải, dài, hoa đơn tính cùng gốc : hoa đực nhỏ, mọc thành bông ở ngọn, hoa cái mọc sít nhau, được bao bởi nhiều lá bắc to, vòi nhụy dài, quả dĩnh, hạt nhiều, xếp thành hàng. Mùa hoa quả nằm vào tháng 4-6, hoặc tùy thuộc vào mùa gieo trồng trong năm 6. Ở Việt Nam ta, bắp là một cây lương thực trồng rất phổ biến khắp nơi, nhiều nhất ở miền núi. Hột bắp ăn trộn với gạo hay thế gạo, dùng nấu rượu, làm tương, thân lá tươi làm thức ăn cho súc vật (8). Có nhiều loại bắp, thường được xếp vào các hạng bắp tẻ (trắng, mềm), bắp nhỏ (ít tinh bột, ăn cả lõi như rau), bắp nếp (dẻo hạt), bắp vàng (hạt cứng nhưng sản lượng cao nên dùng cho gia súc). Hột bắp nấu lâu thì bung ra nên gọi là bắp bung. Bắp bung, xôi nếp, hành phi, bột đậu xanh hấp hợp nhau lại thành xôi lúa là một thức ăn bình dân, thông dụng mà thơm ngon, hấp dẫn lại thêm bổ sức vì chứa đựng nhiều glucid và protein. Nung hột bắp trong hộp kín lên nhiệt độ cao rồi mở nắp lanh khiến áp suất thay đổi đột ngột, nó vừa bung vừa nổ nên gọi là bắp nổ, còn có tên bỏng bắp tức là popcorn của người Mỹ (7).
Hột bắp chứa flagellat 38, abscisin 18, protein (7-12%) cùng lysin (1,8-4,45%) và tryptophan (0,4-1,0%) tùy theo loại hột 23. Phần chính protein-polysaccharid trong vỏ hột là hydroxyprolin và những amin acid : serin, threonin 17. Lá và hột bắp nẩy mầm chứa indol-3-butyric acid nội sinh ở dạng tự do hay ester (27). Octen-3-ol là chất tìm ra dược trước nhất trong số những chất dễ bốc hơi của bắp dự trử (19). Phấn hoa chứa những flavonoid như isorhamnetin, quercetin và quercetin-3-glucoside, một trong những flavonol có nhiều nhất trong các tổ chức cây cỏ (21). Phần chiết đầu nhụy chứa đựng mazenic acid (2-2,5%) bên cạnh hai phytosterol là sitosterol và stigmasterol dưới dạng acetat (15) . Đầu nhụy và vòi nhụy đem chiết rượu thì có được 2,05-2,97% flavonoid 35, dưới dạng glycosid, hai sapogenin là b-sitosterol , oleanolic acid và chất đường trong phần saponin là rhamnose (34) . Thân bắp ủ chứa (g/kg) cellulose (193-238), lignin (8-29), protein và amin acid : lysin, arginin, leucin, prolin, glutamic acid. Đường trong hemicellulose nhiều nhất là (g/g) xylose (0,77) bên cạnh arabinose (0,17), galactose (0,06) và mannose (0,01)25. Cám bắp chứa đựng (%) nhiều phenolic acid (4) gồm có phần lớn ferulic và diferulic acid, heteroxylan (50) bên cạnh cellulose (20) (32). Dầu hột bắp chứa a-tocopherol, b-sitosterol và propyl gallat (26). Trong mầm bắp thì chỉ có g-tocopherol (22). Carotenoid trong bắp là zeaxanthin, thành phần điểm vàng ở võng mạc, có nhiệm vụ che chở chống những gốc tự do của oxy phát xuất từ ánh sáng (29). Phần chiết ether dầu hỏa phát hiện provitamin A (13). Về mặt enzym, trong hột bắp có phosphohexokinase (16), phần chiết huyền phù (suspension) tế bào bắp chứa đựng hai loại homoserin deshydrogenase (20). Màng tế bào đem xử lý với xylanase và glucuronoxylasase thì tách biệt được một phức hợp gồm có arabinose, galactose, rhamnose, xylose, galacturonic acid và một số nhỏ các chất khác 28. Khoáng chất, kim loại trong bắp là Na, K, Mg, Ca, Fe, P, S và Cl (14). Sau cùng cũng nên biết trong bắp, chất gây dị ứng là một lipid chuyển dời protein LTP trọng lượng phân tử 9kDa (40).
Nhờ tính chức ức chế protease, bắp cũng như đậu, gạo có khả năng ngăn cản ung thư vú, da, ruột kết ở thú vật và một cuộc khảo cứu dịch tể học cho thấy thức ăn gồm nhiều những hột ấy giảm hạ ung thư vú, tiền liệt, ruột kết con người (24). Phần chiết hột bắp với ethanol có tính chất chống vi khuẩn, kháng cự lại Staphylococcus aureus (30). Người Tàu ngâm hột bắp (cũng như gạo, đậu, lúa miến, khoai lang,...) trong nước cây (táo, đào, thơm ,...) và cho lên men để chế rượu bổ và thơm (39) hay dấm (36). Họ cũng dùng vòi nhụy cho trộn với bột bầu bí, dâu tằm, sinh địa, kỷ tử, cám mì, đại mạch, sơn dược, cỏ ngọt cùng nhiều loại ngũ cốc,... để làm thuốc giảm đường trong máu (33). Để chữa chứng viêm gan B và C, người Nga đề nghị một hỗn hợp nhiều cây thuốc chứa lectin : đầu nhụy, lá hoa xôn, lá liễu rủ, lá hương phong, lá bạc hà, hoa xu xi, bạc hà mèo (41). Ở Nam Mỹ, vòi nhụy và đầu nhụy bắp, thường được gọi ”pelos de choclo” hay “ barba de choclo “, được đem sắc uống làm thuốc thông tiểu tiện và chữa áp suất trước kinh nguyệt (34). Bên Iran, râu bắp được trộn với nhiều cây khác để uống thảy sỏi thận (42). Bột bắp được cho trộn với đào gai, gừng khô, vỏ cam củ khô, kỷ tử thành thuốc cho vào thức ăn bổ sức (37).Từ lâu, hột bắp cũng như gạo, khoai đã được dùng làm giấy vấn thuốc (11). Người ta cũng lấy dầu bắp chứa đựng chất diệt khuẩn để dùng trong mỹ phẩm xà phòng cạo râu (12).
Trong Đông y, râu bắp và ruột cây bắp vị ngọt, tính bình, có tác dụng lợi tiểu, tiêu thũng, thông mật, cầm máu. Chữa huyết áp cao : uống nước luộc bắp hằng ngày, mỗi ngày 2-3 lần, mỗi lần vài bát, uống liền hai, ba tháng. Chữa đái đường : uống mỗi ngày 20-30g bột mầm bắp khô trong nuớc sắc đọt khoai lang đỏ hay hằng ngày ăn chè bắp sữa nấu với củ mài, đồng thời ăn rau lang đỏ nấu canh. Chữa phù thũng, viêm thận cấp, đái đỏ hay viêm gan tắc mật, đái vàng và da vàng : 40g râu bắp hay 150g ruột cây bắp sắc uống (6). Mầm sấy khô, tán bột, chứa đựng nhiều enzym tiêu hóa, được dùng để trị các bệnh chậm tiêu, đầy bụng, đi tiêu phân sống 7. Ngoài sitosterol, stigmasterol, saponin, Ca, K (0,028g và 0,532g/20g), vitamin C, râu bắp chứa tới 1600 đơn vị sinh lý vitamin K nên có thể phối hợp nó với sinh tố nầy để làm thuốc cầm máu. Để chữa những bệnh về tim, đau thận, tê thấp, sỏi thận, viêm túi mật, viêm gan với hiện tượng trở ngại bài tiết mật, có thể dùng bắp dưới hình thức thuốc pha hoặc nấu sôi, hay chế thành cao lỏng, mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 30-40 giọt trước bửa ăn (4). Không phải tình cờ mà ở Viện Đại học Hà Nội đã có đo lường protein và amin acid (16) loại bắp để xác định giá trị sinh vật học của chúng (31).
Bắp không chỉ là cây lương thực của đời sống hằng ngày ở nước ta mà còn lẫn lộn với chuyện thần linh. Ai mà không biết sự tích cây nêu ngày Tết. Thuở ma quỷ chiếm toàn mặt đất, dân chúng chạy cầu cứu đức Phật. Ngài khuyên dân chúng thương lượng với ma quỷ đổi một gánh bắp lấy một mảnh đất to bằng một bóng áo. Thấy đòi hỏi không có gì lớn lao, ma quỷ đồng ý. Phật liền bảo gài một cái áo trên đầu một cây tre rồi vận thần thông cho cây tre lớn lên trời cao. Bóng áo đổ xuống chiếm toàn mặt đất. Từ đấy ma quỷ hết còn làm chủ. Và cũng từ đấy, mỗi khi Tết đến, dân chúng dựng cây nêu để cho ma quỷ khỏi về. Qua phần văn nghệ, trong câu hò giả gạo ở Huế, bắp cũng là đề tài để phe nữ thử tài phái nam : Trong trăm thứ bắp có bắp chi là bắp không rang ? Và câu trả lời cũng láu lỉnh không bằng : Trong trăm thứ bắp, lắp bắp mồm, lắp bắp miệng là bắp không rang... Nhưng đối với người Huế hay, nói chung, những người yêu Huế, bắp là một trong những hình ảnh Huế mà chàng thi sĩ đa tình Hàn Mặc Tử đã gợi lên trong bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ bất hủ từ thuở tiến chiến :
Gió theo lối gió, mây đường mây ;
Giòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Xô thành tiết đại thử 2004
Tài liệu
Đại cương
1- H.G. Wilkes, Teosinte : the closest relative of maize, The Bussey Institution Of Harvard University (1967)
2-P.C. Mangelsdorf, Corn, its origin, evolution and improvement, Press of Harvard University (1974)
3-G. Beadle, L'origine du maĩs, Pour la Science (3) (1980) 59-71
4-Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (1986) 237-8
5-J.P. Gay, Le mais, La Recherche 18 (1987) 459-66
6-Viện Dược Liệu, Cây thuốc Việt Nam, nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (1990) 419
7-Bùi Kim Tùng, Món ăn bài thuốc III, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Bà Rịa,Vũng Tàu (1996) 33-8
8-Lê Trần Đức, Cây thuốc Việt Nam, nxb Nông Nghiệp, Hà Nội (1997) 602-3
9- Tố Am Nguyễn Toại, Cây lúa bắp hay lúa ngô, Thông tin Khoa học và Công nghệ 22(4) (1998) 162-6
10- Bruce Benz, La domestication du mais, La Recherche 348 (12) (2001) 25-29
Khảo cứu
11- O.P. Kohre, Cigaret paper, DE 598550 19340613 (1934)
12- Standard Branchs,Inc., Antiseptics, GB 423354 19350122 (1935)
13- J.C. Lantzing, A.G. van Veen, The provitamin A content of differnet vegetable products, Geneeskund. Tijdschr. Nederland.-Indie 77 (1937) 2777-804
14- G. Ajon, Chemical composition of foods, Univ. degli studi I Ist. Merceologia (Catania) (1939) 38tr.
15- A. Zaki, G. Soliman, Constituents of the petroleum extract of Zea mays stigmas, J. Chem. Soc. Abst. (1940) 1545-7
16- B. Axelrod, P. Saltman, R.S. Bandurski, R.S. Baker, Phosphohexokinase in highher plants, J. Biol. Chem. 197 (1952) 89-96
17- J.A. Joyce, J.S. Wall, J.E.Jr. Turner, J.H. Woychik, R.J. Dimler, A mucopolysaccharide containing hydroproline from corn pericarp. Isolation and composition, J. Biol. Chem. 242(10) (1967) 2410-5
18- B.V. Milborrow, Identification of (+)-abscisin II [(+)-dormin] in plants and measurement of its concentrations, Planta 76(2) (1967) 93-113
19- D. Richard-Molard, B. Cahagnier, J. Poisson, R. Drapon, C. Desserme, Comparative evolution of volatile constituents and microflora in maize stored under different consitions of temperature and humidity, Ann. Tech. Agric. 25(1) (1976) 29-44
20- T.J. Walter, J.A. Connelly, B.G. Gengenbach, F. Wold, Isolation and characterization of two homoserine dehydrogenases from maize suspension cultures, J. Biol. Chem. 254(4) (1979) 1349-55
21- E.D. Styles, O. Ceska, Genotypes affecting the flavonoid constituents of maize pollen, Maydica 26(3) (1981) 141-52
22- P.J. Barnes, P.W. Taylor, g-Tocopherol in barley germ, Phytochem. 20(7) (1981) 1753-4
23- S. Krishnaveni, Biochemical constituents of certain promising maize cultures, Madras Agric. J. 70(2) (1983) 139-40
24- W. Troll, R. Wer, Protease inhibitors : possible anticarcinogens inedible seeds, Prostate 4(4) (1983) 345-9
25 R.H. Philipps, A.B. McAllan, Carbohydrate constituents and amino acid composition of maize silage grown on commercial farms in the U.K., Maydica 29(1) (1984) 37-3
26- A.S. Raj, M. Katz, Corn oil and its minor constituents as inhibitors of DMBA-induced chromosomal breaks in vivo, Mut. Res. 136(3) (1984) 247-53
27- E. Epstein, K.H. Chen, J.D. Cohen, Identification of indole-3-butyric acid as an endogenous constituent of maize kernels and leaves, Plant Growth Reg. 8(3) (1989) 215-23
28- Y. Kato, D.J. Nevins, Structural characterization of an arabinoxylan-rhamnogalacturonan complex from cell walls of Zea shoots, Carb. Res. 227(6) (1992) 315-29
29- W. Schalch, Carotenoids in the retina - a review of their possible role in preventing or limiting dalage caused by light and oxygen, Vitam. Fine Chem. Div. F.Hoffmann-La Roche EXS 62 (1992) 280-98
30- C. Perez, C. Anesini, Antibacterial activity of alimentary plants against Staphylococcus aureus growth, J. Chin. Med. 22(2) (1994) 169-74
31- Khoi Bui Huy, M. Hidvegi, R. Lasztity, A. Salgo, L. Sarkadi, Biological nutritive value of protein of Vietnamese maize varieties, Per. Polyt. Chem. Eng. 38 (3-4) (1994) 209-17
32- L. Saulnier, J. Vigouroux, J.F. Thibault, Isolation and partial characterization of feruloylated oligosaccharides from maiz bran, Carboh. Res. 272(2) (1995) 241-53
33- Y. Zhu, L. Zhou, Hypoglycemic granules, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1154857 A 19970723 (1997) 12tr.
34- A. Sosa, R. de Ruiz, E.L. Rosa, M.del.R. Fusco, S.O. Ruiz, Flavonoids and saponins from styles and stigmas of Zea mays L. (Gramineae), Acta Farm. Bonaerense 16(4) (1997) 215-8
35- G.I. Minazova, S.B. Denisova, V.T. Danilov, Yu.I. Murinov, Spectrophotometric determination of flavonoids in species “ Hepaphyt “, Farmats. (Moscow) 46(1) (1997) 27-8
36- X. Li, Preparation of fruit vinegar, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1180743 A 19980506 (1998) 9tr.
37- K. Tang, Preparation of health food, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1180495 A 19980506 (1998) 3tr.
38- C. Fernandez-Ramos, F. Luque, C. Fernadez-Becerra, A. Osuna, S.I. Jankevicius, M.J. Rosales, M. Sanchez-Moreno, Biochemical characterization of flagellates isolated from fruits and seds from Brazyl, FEMS Microbiol. Letters 170(2) (1999) 343-8
39- F. Sun, Fruit-grain wine, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1267717 A 20000927 (2000) 3tr.
40- E.A. Pastorello et all., The maize major allergen, which is responsible for food-induced allergic reactions, is a lipid transfert protein, J. All. Cent. Clin. Immun. 106(4) (2000) 744-51
41- A.A. Korsun, E.V. Korsun, E.N. Yagovdik-Telezhnaya, Agent for treatment of viral hepatitis B and C and method of treatment, RUXXE7 RU 2185185 Cl 20020720 (2002)
42- M. Al-Ali, S. Wahbi, H. Twaij, A. Al-Badr, Tribulus terrestris : preliminary study of its diuretic and contractile effects and comparison with Zea mays, J. Ethnophar. 85(2-3) (2003) 257-60
- trích Nghiên cứu và Phát triển 2(40) 2003 -