[Sổ tay] Thuật ngữ THƯƠNG HIỆU - Chuyên đề

BNN

Hỏa Sơn
THUẬT NGỮ THƯƠNG HIỆU
(TỔNG HỢP VÀ SƯU TẦM)
DANH MỤC:

1. Brand Personality: Cá tính thương hiệu
2. Product Life Cycle: Vòng đời sản phẩm
3. Brand Extension: Mở rộng thương hiệu
4. Target Marketing: Marketing mục tiêu
5. Brand Awareness : Độ nhận biết thương hiệu
6. Ambient Advertising: Quảng cáo tại môi trường sống xung quanh
7. Brand Architecture: Kiến trúc thương hiệu
8. Marketing mix: Phối thức tiếp thị
9. Franchise: Nhượng quyền thương hiệu
10. USP – Unique Selling Point: Lợi điểm bán hàng độc nhất
11. Target Marketing: Marketing mục tiêu
12. Brand Awareness : Độ nhận biết thương hiệu
13. Ambient Advertising: Quảng cáo tại môi trường sống xung quanh
14. Brand Culture - Văn hóa thương hiệu
15. Brand Experience: Trải nghiệm thương hiệu
16. Brand Promise : Lời hứa thương hiệu
17. Brand Value: Giá trị thương hiệu
18. Brand Positioning: Định vị thương hiệu
19. Slogan : Khẩu hiệu thương mại
20. Relationship Marketing : Marketing mối quan hệ
21. Segmentation : Phân khúc thị trường
22. Brand Identity : Hệ thống nhận diện thương hiệu
23. Repositioning : Tái định vị thương hiệu
24. Brand Equity: Tài sản thương hiệu
25. Branding: Xây dựng thương hiệu
26. Brand Essence: Tinh chất thương hiệu
27. Brand befefits: Lợi ích thương hiệu
28. Naming: Đặt tên thương hiệu
29. Brand: Thương hiệu

CHI TIẾT:

1. Brand Personality: Cá tính thương hiệu


Cá tính thương hiệu là cách mà thương hiệu thể hiện qua cách tuyên ngôn cũng như hành động. Điều này có nghĩa là việc truyền tải cá tính của con người vào một thương hiệu nhằm để tạo sự khác biệt.

Cá tính thương hiệu được thể hiện qua hành vi của mỗi nhân viên cũng như các hình ảnh thương hiệu xuất hiện trong các quảng cáo, bao bì, vật phẩm tiếp thị… Khi hình ảnh thương hiệu hay chân dung thương hiệu được thể hiện dưới dạng “tính cách” của con người thì chúng ta gọi đó là “cá tính thương hiệu”. Ví dụ như khi Bạn gặp một doanh nhân đi xe hơi Mercedes thì bạn có thể cảm nhận được sự thành đạt…

Cá tính thương hiệu chính là “tính người” trong một thương hiệu. Cá tính thương hiệu được hình thành qua một quá trình trải nghiệm lâu dài của khách hàng với thương hiệu. Cá tính tạo nên sự khác biệt và là đặc tính này sẽ tồn tại lâu dài.

Cá tính thương hiệu và hình ảnh thương hiệu là 2 khái niệm khác nhau. Trong khi hình ảnh thương hiệu dùng để ám chỉ về yếu tố hữu hình như hình thức, đặc tính hay lợi ích thì cá tính thương hiệu chính là yếu tố cảm xúc của thương hiệu.

Cá tính thương hiệu đóng góp rất lớn trong việc tạo dựng tài sản thương hiệu. Cá tính thương hiệu chính là tiền đề trong việc đưa ra các ý tưởng thiết kế, sáng tạo và truyền thông thương hiệu. Điều này giúp khách hàng cảm nhận được sự khác nhau của 2 thương hiệu ngay cả khi chúng có nhiều đặc điểm giống nhau và hoạt động trong cùng một lĩnh vực. Ví dụ như khi bạn xem quảng cáo của Pepsi và Coke thì có thể nhận thấy được Pepsi dường như trẻ trung hơn, sành điệu hơn còn Coke là thức uống giúp mọi người sảng khoái, vui vẻ và hạnh phúc.

Cá tính thương hiệu và các ngôi sao thường có mối quan hệ bổ trợ cho nhau. Mỗi thương hiệu có một cá tính riêng và điều này giúp tạo ra sự khác biệt của thương hiệu cũng như sức mạnh của thương hiệu. Đại sứ thương hiệu phải có cá tính tương đồng với thương hiệu. Ví dụ, thương hiệu Pepsi có cá tính năng động, trẻ trung, thời trang… nên việc chọn Britney Spear hay các ngôi sao có cá tính tương tự là hoàn toàn phù hợp. Singapore Airline là thương hiệu của sự ân cần, chăm sóc và thân thiện… nên họ đã chọn lựa hình ảnh những cô gái Singapore dịu dàng đằm thắm luôn quan tâm và giúp đỡ mọi người. Dù hình ảnh cô gái là đại sứ thương hiệu cho Singapore không phải là ngôi sao hay người nổi tiếng nhưng sự phù hợp về cá tính thương hiệu đã mang lại hiệu quả vô cùng lớn.
 
Sửa lần cuối:

BNN

Hỏa Sơn
2. Product Life Cycle: Vòng đời sản phẩm

Khái niệm vòng đời giúp cho các nhà tiếp thị xác định các giai đoạn khác nhau của sản phẩm qua sự thay đổi của doanh số và lợi nhuận. Có 4 giai đoạn trong vòng đời sản phẩm là: giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy tàn.

Giới thiệu: Doanh số ở mức thấp khi mà sản phẩm vẫn chưa được nhiều người biết đến, Chi phí cao do phải đầu tư nhiều vào các hoạt động tiếp thị quảng bá để tạo sự nhận biết. Mọi nổ lực của doanh nghiệp ở giai đoạn này tập trung vào phát triển hệ thống phân phối và truyền thông.

Phát triển: Giai đoạn này thị trường đã chấp nhận sản phẩm và lợi nhuận gia tăng mạnh. Các đối thủ cạnh tranh bắt đầu thâm nhập thị trường. Doanh nghiệp thường tập trung vào việc gia tăng sự hiện diện của sản phẩm.

Chín muồi: Doanh số có xu hướng đi ngang và thị trường bắt đầu bão hòa. Lợi nhuận đi ngang hoặc có thể giảm sút do doanh nghiệp gia tăng chi phí tiếp thị để duy trì vị thế và thị phần trước áp lực cạnh tranh gay gắt của các đối thủ.

Suy tàn: Doanh số lao dốc và lợi nhuận giảm sút mạnh. Để cải thiện tình hình thì doanh nghiệp có thể giới thiệu sản phẩm mới hoặc bán sản phẩm đến các thị trường mới.

141011%20vong%20doi%20san%20pham%201.jpg


Mô hình vòng đời sản phẩm rất hữu ích cho doanh nghiệp trong việc phát triển chiến lược phù hợp cho các giai đoạn khác nhau của sản phẩm. Tuy nhiên, khái niệm này cũng có thể đẩy doanh nghiệp vào các tiên đoán sai lầm. Thực tế thì không phải sản phẩm nào hoặc thương hiệu nào cũng vòng đời sản phẩm hình chữ S. Một số sản phẩm trào lưu nhất thời sẽ biến mất ngay sau giai đoạn giới thiệu (sản phẩm đồ chơi giáng sinh chẳng hạn…), trong khi một số sản phẩm khác thì trường tồn qua thời gian.

141011%20vong%20doi%20san%20pham%202.jpg


Làm thế nào để một sản phẩm có thể trường tồn qua thời gian? Lời gian đáp chính là chiến lược mà doanh nghiệp sử dụng khi sản phẩm ở giai đoạn chín muồi (giai đoạn 3 của vòng đời sản phẩm). Khi sản phẩm hay thương hiệu đã trở nên phổ biến thì cần phải cải tiến hay làm mới để chúng luôn phù hợp với những thay đổi của người tiêu dùng. Hay nói một cách khác các nhà tiếp thị cần tái định vị thương hiệu hay sản phẩm để kéo dài vòng đời khi sản phẩm đang ở giai đoạn chín muồi.
 

BNN

Hỏa Sơn
3. Brand Extension: Mở rộng thương hiệu

Mở rộng thương hiệu là việc tận dụng sức mạnh của thương hiệu trong việc mở rộng sản phẩm, mở rộng thị trường hoặc mở rộng sang ngành khác.Doanh nghiệp có thể thúc đẩy sản phẩm của thương hiệu mình tới những thị trường mới để tăng doanh số bán hàng, tăng lợi nhuận sản xuất và nâng cao danh tiếng cho mình.

Doanh nghiệp nào sau khi có được một thương hiệu nổi tiếng cũng muốn phát triển thương hiệu của mình bằng cách mở rộng thêm các dòng sản phẩm mới, để tăng sự đa dạng và được nhiều người người tiêu dùng biết đến. Tuy nhiên, trong chiến lược mở rộng thương hiệu, không ít các doanh nghiệp đã bị thất bại vì mắc phải những sai lầm. Đó là do thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm trong việc tung ra sản phẩm mới không phù hợp với sản phẩm chính.Ví dụ, tại các siêu thị lớn ở Mỹ, hiện có tới 45 loại sản phẩm cà phê khác nhau của Hãng Folgers, nước tăng lực Gatorade có 23 loại hương vị, mù tạt Grey Poupon có 7 loại sản phẩm khác nhau và Kellogg có đến 50 loại ngũ cốc ăn sáng. Tương tự, mức độ phức tạp trong cấu trúc thương hiệu của nhóm sản phẩm chăm sóc cá nhân như thương hiệu Dove của Unilever cũng ngày một tăng lên.

Phương thức này có thực sự tạo ra lợi nhuận? Doanh thu của hãng Coca-Cola phần nào hé lộ cho chúng ta thấy được câu trả lời. Tại Mỹ, Hãng Coca-Cola cung cấp 14 loại sản phẩm đồ uống khác nhau trên các giá hàng tại các siêu thị, trong đó có ít nhất 10 sản phẩm nổi tiếng chỉ chiếm 4% tổng doanh thu.

Dù vậy, có những lý do hợp lý để giải thích vì sao Coca-Cola và nhiều thương hiệu khác vẫn đưa ra các dòng sản phẩm quá rộng như vậy, bất chấp việc hiệu quả thu về có vẻ không mấy cân xứng với những nỗ lực bỏ ra. Lý do chủ yếu ở đây là vì cuộc chiến tranh giành không gian trưng bày trên giá hàng tại các siêu thị. Quan trọng hơn, đó cũng chính là cuộc chiến giành lấy sự nhận biết trong tâm trí khách hàng.

Để giới thiệu tất cả các sản phẩm khác nhau của một thương hiệu, các nhà bán lẻ thường dành riêng một mặt ngăn trên giá bán hàng, thường được gọi là mặt “trưng bày” cho mỗi loại sản phẩm. Ở các gian hàng chật cứng tại nhiều trung tâm siêu thị, các thương hiệu cạnh tranh được đặt san sát gần nhau, thì việc làm sao để giành được vị thế trưng bày nổi bật trên các giá hàng chính là mục tiêu cốt yếu. Sản phẩm của một thương hiệu càng đa dạng bao nhiêu thì ấn tượng thương hiệu tổng thể tạo được nhờ các ngăn trưng bày mặt tiền càng hiệu quả bấy nhiêu khi khách hàng lướt qua các quầy trưng bày hàng để tìm mua sản phẩm.

Đương nhiên, đối với thương hiệu thì việc trưng bày được nhiều hàng hóa như vậy là quá tốt, song với hầu hết khách hàng tìm mua những sản phẩm phổ biến và thông dụng nhất thì lại không được thuận tiện lắm. Đó là bởi vì khi các loại sản phẩm phổ biến nhất được xếp trên một mặt giá trưng bày hàng, chúng thường được tiêu thụ rất nhanh trước khi nhân viên siêu thị kịp quay lại để bổ sung thêm hàng. Điều này kéo theo một lượng hàng hóa bị lỡ dịp tiêu thụ và ảnh hưởng không tốt lắm tới kết quả doanh thu cuối cùng.

Bên cạnh đó, dù tạo được ưu thế về mặt hình ảnh trên giá hàng, chưa hẳn sự đa dạng của sản phẩm sẽ tạo được lợi thế cho hình ảnh của thương hiệu. Hình ảnh thương hiệu phụ thuộc rất nhiều vào mức độ mở rộng của thương hiệu đến đâu khi tạo ra tất cả những sản phẩm đa dạng khác nhau và liệu việc mở rộng thương hiệu có khiến cho các đặc tính cơ bản tạo nên sự khác biệt cho thương hiệu bị lu mờ trong hàng loạt sản phẩm như vậy hay không.

Một số thương hiệu nhận ra được điều này chỉ sau khi đã nếm mùi thất bại. Tại Mỹ, Hãng Procter & Gamble đưa ra 46 sản phẩm kem đánh răng khác nhau dưới cùng tên thương hiệu Crest. Điều này dẫn đến việc ra đời những sản phẩm với tên gọi dài loằng ngoằng kiểu như “Kem đánh răng Crest với công thức độc đáo làm trắng răng nhẹ nhàng với sức mạnh làm chắc và bảo vệ răng tối đa” (Crest Maximum Strength Sensitivity Original Formula Soothing Whitening Paste).

Kết quả là, 3 năm trước, kem đánh răng Crest đã để tuột mất vị trí dẫn đầu về tay Colgate và loại sản phẩm duy nhất mang tên gọi đơn giản là “Colgate Total” (Colgate Tổng hợp) – chỉ trong một sản phẩm đã bao hàm hầu hết mọi đặc tính mà Crest tập trung nhấn mạnh cho từng sản phẩm đơn lẻ trong dòng sản phẩm kem đánh răng Crest.

Hãy lưu ý rằng, các yếu tố liên quan đến việc trưng bày sản phẩm khi tiến hành mở rộng thương hiệu không áp dụng đối với những sản phẩm được giới thiệu trên một thị trường đang phát triển vô cùng mạnh mẽ – đó là mạng Internet, nơi mà không gian trưng bày sản phẩm là không hạn chế. Loại phương tiện này ngày càng có sức ảnh hưởng lớn hơn trong việc giới thiệu sản phẩm tới người tiêu dùng, thông thường là tới các khách hàng tiêu dùng sử dụng Internet chỉ để tìm kiếm thông tin trước khi mua sắm thực tế.
 

BNN

Hỏa Sơn
4. Target Marketing: Marketing mục tiêu

Marketing mục tiêu là việc phát triển phối thức tiếp thị riêng cho một hoặc nhiều phân khúc thị trường. Marketing mục tiêu trái ngược với marketing đại trà, là hình thức tiếp thị một sản phẩm cho toàn bộ thị trường.

Hai điểm quan trọng khi lựa chọn phân khúc thị trường mục tiêu là độ hấp dẫn của thị trường và mức độ phù hợp của phân khúc với mục tiêu, nguồn lực hay năng lực của công ty.

Sự hấp dẫn của phân khúc thị trường mục tiêu

Một số tiêu chí để đo mức độ hấp dẫn của một phân khúc thị trường là:

- Độ lớn của phân khúc (số lượng khách hàng hay số lượng sản phẩm tiêu thụ)
- Mức độ tăng trưởng của phân khúc.
- Mức độ cạnh tranh trong phân khúc.
- Mức độ trung thành thương hiệu trong phân khúc.
- Mức chi phí tiếp thị ước tính để thâm nhập phân khúc
- Tỉ lệ thị phần cần thiết để đạt điểm điểm hòa vốn.
- Tiềm năng bán hàng tại phân khúc này
- Tỉ lệ lợi nhuận biên kỳ vọng tại phân khúc này.

Nghiên cứu thị trường là phương pháp để thu thập được các loại thông tin này. Ví dụ, thông qua việc thấu hiểu được ý định mua sắm, số lượng sản phẩm tiêu dùng, cách thức mua sản phẩm hay thời điểm mua sản phẩm… thì doanh nghiệp có thể ước lượng được tiềm năng thị trường cũng như doanh số kỳ vọng của công ty.

200511%20phan%20khuc%20thi%20truong.jpg


Có một điểm lưu ý là độ lớn của phân khúc thị trường, có nhiều phân khúc lớn không có nghĩa là doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn khi thâm nhập. Thông thường các phân khúc thị trường lớn thì sẽ có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn, mức độ cạnh tranh về giá sẽ lớn dẫn đến tỉ lệ lợi nhuận biên trên đơn vị sản phẩm sẽ không cao. Vì vậy, doanh nghiệp nên chọn phân khúc nhỏ với mức độ lợi nhuận cao hơn.

Sự phù hợp của phân khúc thị trường với doanh nghiệp

Một phân khúc thị trường hiệu quả còn được đánh giá qua mức độ phù hợp của phân khúc với những mục tiêu, chiến lược hay nguồn lực kinh doanh của doanh nghiệp. Một số khía cạnh dùng để đánh giá như:

- Liệu doanh nghiệp có thể mang đến các sản phẩm vượt trội trong phân khúc này.
- Liệu khi phục vụ phân khúc này có ảnh hưởng gì tới hình ảnh của toàn doanh nghiệp.
- Liệu có cần phải thiết lập kênh phân phối mới cho phân khúc này.
- Liệu nguồn vật lực và tài lực của doanh nghiệp có đảm bảo cho việc thâm nhập phân khúc này.
- Một phân khúc càng phù hợp với công ty, có mức độ hấp dẫn thị trường cao thì sẽ hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.

Các chiến lược lựa chọn phân khúc thị trường mục tiêu

Có nhiều chiến lược lựa chọn phân khúc thị trường mục tiêu khác nhau. Doanh nghiệp có thể tham khảo các chiến lược sau:

Một phân khúc thị trường (Single Segment): chỉ hoạt động trong một phân khúc thị trường duy nhất bằng một phối thức tiếp thị duy nhất. Chiến lược này thường phù hợp cho các công ty nhỏ có nguồn lực hạn hẹp.

Một số phân khúc chọn lọc (Selective Specialization): chọn lọc một số phân khúc thị trường để hoạt động, các phương pháp phối thức tiếp thị khác nhau sẽ được sử dụng cho các phân khúc thị trường khác nhau. Về mặt sản phẩm thì có thể giống nhau hoàn toàn hoặc khác nhau chút ít, trong một số trường hợp chỉ có kênh phân phối và thông điệp tiếp thị là khác nhau.

Chuyên môn hóa sản phẩm (product specialiation): doanh nghiệp chỉ tập trung vào một sản phẩm duy nhất và hiệu chỉnh tính năng cho phù hợp từng phân khúc thị trường mục tiêu.

Chuyên môn hóa thị trường (market specialiation): doanh nghiệp chỉ tập trung vào một thị trường mục tiêu duy nhất và phát triển nhiều sản phẩm khác nhau để phục vụ.

Bao phủ toàn thị trường (Full market coverage): doanh nghiệp hướng đến việc phục vụ toàn thị trường. Chiến lược này có thể sử dụng qua việc sử dụng một chiến lược marketing cho toàn bộ thị trường (marketing đại trà) hoặc phối thức tiếp thị khác nhau cho từng phân khúc thị trường.

Dưới đây là biểu đồ minh họa 5 chiến lược lựa chọn thị trường mục tiêu thông qua việc phân chia ra 3 phân khúc thị trường S1, S2, S3 và 3 sản phẩm P1, P2, P3.

160511%20thi%20truong%20muc%20tieu.jpg


Khi gia nhập một phân khúc thị trường, doanh nghiệp nên ưu tiên lựa chọn phân khúc nào hấp dẫn và phù hợp với năng lực của mình nhất. Khi đã có chỗ đứng trên thị trường, doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường bằng cách áp dụng chiến lược tập trung sản phẩm (Product specialization) qua việc cung ứng sản phẩm có tính năng khác nhau đáp ứng các phân khúc khác nhau, hoặc sử dụng chiến lược tập trung vào thị trường bằng việc cung ứng nhiều sản phẩm khác nhau cho cùng một thị trường.
 

BNN

Hỏa Sơn
5. Brand Awareness : Độ nhận biết thương hiệu

Nhận biết thương hiệu là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình tiến trình mua sắm và là một tiêu chí quan trọng để đo lường sức mạnh của thương hiệu. Một thương hiệu có độ nhận biết càng cào thì càng nổi tiếng và có cơ hội cao hơn được khách hàng lựa chọn.

Độ nhận biết thương hiệu được tạo nên do các hoạt động truyền thông của doanh nghiệp như: quảng cáo, PR, sự kiện, tài trợ, kích hoạt thương hiệu... Vì vậy, việc quảng bá thương hiệu cũng rất tốn kém nên việc hiểu rõ được mức độ ảnh hưởng của sự nhận biết đến tiến trình lựa chọn sản phẩm sẽ giúp cho các doanh nghiệp có được các thức xây dựng thương hiệu đạt hiệu quả cao với một chi phí hợp lý hơn.

Mức độ nhận biết thương hiệu có thể chia ra làm 3 cấp độ khác nhau. Cấp độ cao nhất chính là thương hiệu được nhận biết đầu tiên (Top of mind). Cấp độ kế tiếp là không nhắc mà nhớ (spontaneous). Cấp độ thấp nhất là nhắc để nhớ (Promt). Khi cộng gộp 3 cấp độ nhận biết thương hiệu thì ta sẽ là tổng số nhận biết nhãn hiệu.

Thương hiệu được nhận biết đầu tiên chính là thương hiệu mà khách hàng sẽ nghĩ đến đầu tiên khi được hỏi về một loại sản phẩm nào đó. Ví dụ, khi nghĩ đến tivi thì người Việt Nam thường nghĩ đến Sony đầu tiên, tương tự khi nói đến xe gắn máy thì mọi người thường nghĩ ngay đến Honda, về mạng điện thoại di động thì có thể nghĩ đến Mobifone, sữa tươi thì nghĩ đến Vinamilk... Và kết quả là Sony và Honda và các nhãn hiệu có độ nhận biết đầu tiên cao luôn là những thương hiệu được mọi người cân nhắc khi chọn lựa mua sản phẩm. Với những loại sản phẩm hay dịch vụ mà người tiêu dùng lên kế hoạch mua sắm trước khi đến nơi bán hàng thì tiêu chí thương hiệu nhận biết đầu tiên đóng vai trò rất quan trọng. Điều này được lý giải là đối với những sản phẩm đắt tiền thì người ta thường luôn lên kế hoạch cho việc mua sắm, vì vậy mà thường người mua đã lựa chọn thương hiệu mà mình sẽ mua từ trước, và thường thì thương hiệu mà họ nghĩ đến đầu tiên sẽ rất dễ được người mua chọn lựa. Một số ví dụ về sản phẩm thuộc chủng loại này như Tivi, xe máy, máy tính, điện thoại…

Thông thường khi một thương hiệu có độ nhận biết đầu tiên lớn hơn 50% thi hầu như rất khó có thể nâng cao chỉ số này. Chính vì vậy, để cải thiện chỉ số này thì đòi hỏi phải quá nhiều chi phí trong khi hiệu quả thì không được bao nhiêu nên nhiệm vụ của doanh nghiệp là nên duy trì mức độ nhận biết ở mức độ này.

Đối với các sản phẩm hàng tiêu dùng như dầu gội đầu, kem đánh răng, bột giặt… thì tổng số nhận biết thương hiệu đóng vai trò quan trọng. Tiêu chí nhận biết đầu tiên luôn luôn quan trọng nhưng đối với những sản phẩm mà người ta quyết định tại điểm mua hay mua sắm mà không hoạch định trước thì chỉ số tổng độ nhận biết luôn được doanh nghiệp quan tâm hơn. Khi một người nội chợ đi siêu thị mua sắm trong tuần thì họ thường nghĩ là sẽ mua bột giặt nhưng họ thường không hoạch định sẽ mua omo hay tide nên khi đi siêu thị đến nơi trưng bày họ đều có thể quyết định mua bất kỳ thương hiệu nào mà họ biết.

Nếu tổng độ nhận biết thương hiệu lớn hơn 90% thì rất tốt và hầu như rất khó để nâng độ nhận biết lên 100%. Chính vì vậy, chi phí cho việc quảng bá thương hiệu khi hầu hết mọi người đã biết đến thương hiệu của mình thì không hiệu quả. Doanh nghiệp chỉ nên quảng bá thương hiệu một cách không thường xuyên nhằm duy trì mức độ nhận biết này.
 

BNN

Hỏa Sơn
6. Ambient Advertising: Quảng cáo tại môi trường sống xung quanh

Ambient Advertising là một thuật ngữ trong ngành quảng cáo được sử dụng vào đầu những năm 1990 khi một số doanh nghiệp yêu cầu các đối tác quảng cáo của mình (Agency) hãy làm “một cái gì đó mới mẻ” cho họ.

Thay vì quảng cảo trên các phương tiện thông thường như billboard, báo chí, truyền hình, các đối tác quảng cáo đã bắt đầu đưa ra các ý tưởng độc đáo hơn quảng cáo trên các phương tiện “mới mẻ” hơn. Ambient Advertising có thể tạm được dịch là quảng cáo “quảng cáo tại môi trường sống xung quanh”.

Với chi phí quảng cáo qua các kênh truyền thông cổ điển này càng cao trong khi mức độ thu hút sự quan tâm của đối tượng truyền thông thì ngày càng giảm sút. Vì vậy, các nhà tiếp thị ngày càng “hứng thú” với quảng cáo ambient được ứng dụng phong phú trên nhiều phương tiện khác nhau. Ví dụ như trên xe hơi, xe đạp, taxi, xe buýt, tại cửa hàng, thang máy, công viên, trạm điện thoại, trung tâm mua sắm…

Mỗi khi các bạn phải suy nghĩ không biết mình nên sử dụng phương tiện quảng cáo nào cho hiệu quả thì Ambient Advertising có thể là một lựa chọn. Hãy làm cho mọi người phải “ngước nhìn” những ý tưởng quảng cáo đầy sáng tạo:

260511%20ambient%201.jpg

260511%20ambient%202.jpg

260511%20ambient%203.jpg

260511%20ambient%204.jpg

260511%20ambient%205.jpg


260511%20ambient%206.jpg


260511%20ambient%207.jpg


260511%20ambient%208.jpg


260511%20ambient%209.jpg


260511%20ambient%2010.jpg

260511%20ambient%2011.jpg

260511%20ambient%2012.jpg

260511%20ambient%2013.jpg

260511%20ambient%2014.jpg


260511%20ambient%2015.jpg

260511%20ambient%2016.jpg

260511%20ambient%2017.jpg

260511%20ambient%2018.jpg

260511%20ambient%2019.jpg

260511%20ambient%2020.jpg

260511%20ambient%2021.jpg

260511%20ambient%2022.jpg

260511%20ambient%2023.jpg

260511%20ambient%2024.jpg

260511%20ambient%2025.jpg

260511%20ambient%2026.jpg
 

BNN

Hỏa Sơn
7. Brand Architecture: Kiến trúc thương hiệu

Kiến trúc thương hiệu là một cấu trúc nhằm tổ chức các thương hiệu nằm chung trong một danh mục với mục đích xác định rõ vai trò của từng thương hiệu, mói quan hệ giữa các thương hiệu, cũng như quan hệ giữa các thương hiệu trên thị trường sản phẩm.

Chẳng hạn hệ thống khách sạn Marriott có ít nhất bốn thương hiệu chính: Marriott Residence Inn, Mariott Hotels, Resort & Suites, Courtyard by Marriott, và Fairfield Inn by Marriott. Khi muốn xâm nhập thị trường khách sạn cao cấp, Marriott mua lại hệ thống khách sạn Ritz-Carlton nhưng thận trọng không gắn vào đó thương hiệu Marriott (vốn không định vị là hệ thống khách sạn sang trọng nhất) mà tiếp tục duy trì thương hiệu Ritz-Carlton. Courtyard by Marriott xuất hiện năm 1983 nhắm vào khách hàng chính là các thương nhân tại khu vực ngoại thành. Fairfield Inn xuất hiện năm 1987 nằm trong khi vực ngoại thành nhưng sát với các xa lộ lớn và tập trung vào đối tượng khách hàng là gia đình.

250510marriottbrands.jpg


Vấn đề mấu chốt trong quản trị đa thương hiệu là làm thể nào để có thể tiếp cận các phân khúc thị trường mới, giới thiệu sản phẩm mới mà không chịu sự rủi ro và tốn kém khi phải tạo ra các thương hiệu mới. Nhưng đôi khi chiến lược kinh doanh đòi hỏi phải sử dụng các thương hiệu khác nhau cho các khúc thị trường khác nhau. Do đó, vấn đề quản trị đa thương hiệu được đặt ra cho các nhà quản lý. Theo giáo sư David A. Aaker, kiến trúc thương hiệu là công cụ được sử dụng để tạo ra tổng lực, sự phân vài minh bạch giữa các thương hiệu cụ thể, và tạo sức nâng cho thương hiệu.

Cụ thể hơn, kiến trúc thương hiệu là một cấu trúc nhằm tổ chức các thương hiệu nằm chung trong một danh mục với mục đích xác định rõ vai trò của từng thương hiệu, mói quan hệ giữa các thương hiệu (ví dụ quan hệ giữa Ford và thương hiệu xe Taurus), cũng như quan hệ giữa các thương hiệu trên thị trường sản phẩm (ví dụ quan hệ giữa Nike châu Âu và Nike Hoa Kỳ, Sony Theaters và Sony Television).
 

BNN

Hỏa Sơn
8. Marketing mix: Phối thức tiếp thị

Phối thức tiếp thị có lẽ là một trong những thuật ngữ thông dụng nhất trong lĩnh vực tiếp thị. Các thành phần của phối thức tiếp thị chính là yếu tố căn bản trong các bản kế hoạch tiếp thị.

Các thành phần trong phối thức 4P tiếp thị (marketing mix) bao gồm sản phẩm, giá, phân phối và truyền thông. Phối thức 4P này được sử dụng rộng rãi bởi các doanh nghiệp cho tiếp thị sản phẩm. Mô hình phối thức tiếp thị 4P giúp doanh nghiệp xác định các sản phẩm sẽ bán, định giá bán, chọn kênh bán hàng phù hợp và chọn các hình thức truyền thông quảng bán sản phẩm đến các đối tượng khách hàng mục tiêu khác nhau.

Giáo sư Neil Borden cửa Trường Kinh doanh Harvard đã đưa ra khái niệm phối thức tiếp thị khi nghiên cứu các hoạt động của công ty có thể ảnh hưởng đến người mua hàng. Chẳng hạn, một công ty dược có thể ảnh hưởng đến hành vi kê đơn của bác sĩ bằng cách gọi điện bán hàng hạ giá, cho không hàng mẫu, viết bài giới thiệu trên tạp chí chuyên ngành, đăng quảng cáo hay tài trợ cho các hội nghị y học. Borden cho rằng, tất cả các hoạt động này sẽ tạo ra một “phối thức tiếp thị” và doanh nghiệp cần phải có phương án làm sao phối hợp các yếu tố này để mang lại hiệu quả cao nhất với một chi phí chấp nhận được. Khái niệm “phối thức tiếp thị” đã ra đời với 4 thành phần chính sử dụng trong phối thức là: sản phẩm, giá, phân phối và khuyến thị.

171011%20phoi%20thuc%20tiep%20thi%201.jpg


Các thành phần trong phối thức tiếp thị thì cố định (sản phẩm, giá, phân phối và khuyến thị), tuy nhiên việc tạo ra một phối thức hiệu quả trong điều kiện đặc thù của một doanh nghiệp thì đòi hỏi kinh nghiệm và sự sáng tạo của người làm tiếp thị. Cũng giống như việc chúng ta có 7 nốt nhạc và mỗi nhạc sỹ có thể sáng tác rất nhiều bài hát khác nhau nhưng không có nhiều nhạc sỹ có thể mang đến những bài hát đi vào lòng người và được đông đảo công chúng mến mộ. Tương tự, trong phối thức tiếp thị chúng ta cũng có 4 thành phần chính là sản phẩm, giá, phân phối và khuyến thị, tuy nhiên không phải người làm tiếp thị nào cũng đưa ra được những phương án hay và phù hợp với doanh nghiệp. Điều này chính là điểm phân biệt giữa những nhà tiếp thị giỏi và người làm tiếp thị bình thường khác.

Với sự phát triển của tiếp thị, ngày nay phối thức tiếp thị chia ra làm 2 loại: (1) phối thức tiếp thị dành cho sản phẩm là 4P (sản phẩm, giá, phân phối và khuyến thị); (4) phối thức tiếp thị dành cho lĩnh vực dịch vụ là 7P.

Loại hình doanh nghiệp dịch vụ thì hoàn toàn khác với doanh nghiệp bán sản phẩm. Những điểm hoàn toàn khác biệt của dịch vụ bao gồm: tính vô hình, tính không đồng nhất, không thể tách rời được… Vì vậy, nguyên lý tiếp thị sử dụng cho sản phẩm không thể phù hợp hoàn toàn với dịch vụ, do đó marketing dịch vụ cần phải có mô hình phối thức tiếp thị riêng. Các loại hình doanh nghiệp dịch vụ rất đa dạng và bao trùm toàn bộ nền kinh tế như dịch vụ ngân hàng, dịch vụ phần mềm, nhà hàng, bệnh viện, giáo dục, du lịch, nghĩ dưỡng… Mô hình phối thức tiếp thị dịch vụ bao gồm 7P: Sản phẩm (product); Giá (price); Địa điểm (place); Truyền thông (promotion); Con người (People); Quy trình (process) và Môi trường dịch vụ (Physical Evidence). Trong 7P này thì 4P đầu xuất phát từ tiếp thị sản phẩm và 3P được mở rộng cho phù hợp với đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh dịch vụ.

131011%207p%20tiep%20thi%20dich%20vu%201.jpg


Sản phẩm: là điểm cốt lõi trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nếu sản phẩm không tốt thì mọi nổ lực của các phối thức tiếp thị khác đều sẽ thất bại.

Giá: cách định giá của dịch vụ sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ hài lòng của khác hàng. Thông thường giá cao sẽ tạo tâm lý hành long cao ở khách hàng vì mọi người đều nghĩ “tiền nào của nấy”.

Địa điểm: là một phần khác để tạo ra giá trị cho khách hàng. Không ai lại đi hàng chục cây số để đến một nhà hàng dùng bữa, vì vậy địa điểm phù hợp sẽ tạo sự tiện lợi và giúp khách hàng tiết kiệm được nhiều thời gian. Và một nguyên tắc đó là vị trí càng gần khách hàng thì khả năng khách hàng đến sử dụng dịch vụ càng cao.

Truyền thông: tạo sự nhận biết về dịch vụ cũng như cảm nhận ban đầu của khách hàng về các dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Để đảm bảo sự nhất quán và gia tăng tính hiệu quả của truyền thông thì mọi thông điệp truyền tải cần phải bám sát với định vị thương hiệu.
Con người: là phần mấu chốt trong việc thực hiện dịch vụ. Nếu nhà hàng có những món ăn ngon mà người phục vụ quá kém thì cũng không tạo được sự hài lòng của khách hàng. Sự ân cần và tươi cười luôn được đánh giá cao bởi khách hàng.

Quy trình: là một phần quan trọng khác của chất lượng dịch vụ. Vì đặc tính của dịch vụ là trừu tượng vì vậy quy trình sẽ giúp đảm bảo chất lượng và nối kết giữa các công đoạn trong quy trình cung ứng dịch vụ. Ngoài ra quy trình dịch vụ còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm khoảng thời gian chờ đợi từ khách hàng và điều này tạo ra giá trị lớn, chẳng hạn một khách hàng không thể đời hàng chục phút để mua được phần thức ăn nhanh…

Môi trường dịch vụ: là một yếu tố khác ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng. Đặc điểm của dịch vụ là sự trừu tượng nên khách hàng thường phải tìm các yếu tố “hữu hình” khác để quy chuyển trong việc đánh giá. Ví dụ, khi một bệnh nhận tìm đến một nha sĩ thì yếu tố phòng khám sạch sẽ, trang nhã, yên tĩnh hay trên tường treo nhiều giấy chứng nhận, bằng khen, bằng cấp hay bài báo viết về vị nha sĩ này sẽ tạo ra một niềm tin rất lớn từ bệnh nhân.
 

BNN

Hỏa Sơn
9. Franchise: Nhượng quyền thương hiệu

Franchise có nguồn gốc từ tiếng Pháp, “franc” có nghĩa là “free” (tự do). Franchise là một mô hình kinh doanh thành công và phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Franchise chính là mô hình nhân rộng thương hiệu hay mô hình kinh doanh.

Nhượng quyền thương hiệu là việc cho phép người khác được sử dụng thương hiệu hay bán các sản phẩm dịch vụ của mình. Bên nhượng quyền (Franchisor) và bên nhận nhượng quyền (Franchisee) sẽ ký kết một hợp đồng franchise, qua đó bên nhận nhượng quyền sẽ được sử dụng thương hiệu hay mô hình kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định và phải trả một mức phí cho việc nhượng quyền này.
Một mô hình kinh doanh tạo lợi ích cho các bên tham gia.

Với chủ thương hiệu (Bên nhượng quyền - franchisor) việc nhượng quyền thương hiệu sẽ đem lại 3 lợi ích chính: (1) mở rộng nhanh được mạng lưới bán hàng mà không cần đầu tư xây dựng hệ thống hay nguồn nhân lực, (2) gia tăng giá trị thương hiệu, (3) gia tăng doanh số và lợi nhuận từ nguồn thu chi phí nhượng quyền.

Với đơn vị được nhượng quyền (franchisee) sẽ có các lợi ích: (1) sở hữu cơ sở kinh doanh mà mô hình đã được ứng dụng thành công nên giảm thiểu rủi ro, (2) được sự hỗ trợ tư vấn của chủ thương hiệu về các vấn đề liên quan như sản phẩm, dịch vụ, cách quản lý, tiếp thị…, (3) được sử dụng thương hiệu đã có uy tín nên lượng khách hàng sẽ nhiều và ổn định hơn.

Nhượng quyền thương hiệu đang được ứng dụng rất thành công trong nhiều lĩnh vực kinh doanh từ quy mô nhỏ như trạm xăng, cửa hàng, quán ăn, nhà hàng… đến các loại hình kinh doanh đòi hỏi nguồn vốn lớn như khách sạn, bệnh viện…

Người nhượng quyền (Franchisor) sẽ nhận được 2 khoản phí từ người nhận quyền thương hiệu (Franchisee) là: (1) khoản phí của việc sử dụng thương hiệu; (2) khoản phí của việc đào tạo và tư vấn cho người nhận nhượng quyền. Đôi khi 2 loại phí này được gộp chung lại thành một khoản phí là “quản lý phí” được nêu rõ trong hợp đồng chuyển nhượng.

Việc cấp phép sử dụng thương hiệu thường được giới hạn trong một khoản thời gian và không gian địa lý nhất định. Thời gian thông thường là từ 5-30 năm, còn không gian địa lý thì có thể chỉ là một điểm hay nhiều điểm kinh doanh trong một hoặc vài vùng miền nào đó.
Dưới đây là chi phí nhượng quyền của các thương hiệu hàng đầu thế giới (tham khảo số liệu từ Wikipedia):

Subway (Sandwiches and Salads):
- Chi phí đầu tư ban đầu: $84.300-$258.300
- Số đối tác: 22.000 (trên toàn thế giới 2004)
220811%20subway.jpg


Mc Donald’s (thức ăn nhanh)
- Chi phí đầu tư ban đầu: $995,900 – $1,842,700
- Số đối tác: 37.300 (trên toàn thế giới 2010)
120311%20mc%20donald.png


7-Eleven (cửa hàng tiện lợi)
Chi phí đầu tư ban đầu: $40,500- 775,300
Số đối tác: 28.200 (trên toàn thế giới 2004)
120311%20seven%20eleven.jpg


Hampton Inns & Suites (khách sạn)
Chi phí đầu tư ban đầu: $3,716,000 – $15,148,800
Số đối tác: N/A
120311%20hampton%20inn.jpg


Great Clips (Tiệm tóc)
Chi phí đầu tư ban đầu: $109,000 - $203,000
Số đối tác: N/A
070911%20Great%20Clips.jpg
 

BNN

Hỏa Sơn
10. USP – Unique Selling Point: Lợi điểm bán hàng độc nhất

USP – “Lợi điểm bán hàng độc nhất” chính là ưu thế bền vững của một thương hiệu hay sản phẩm được xác định ra nhằm tạo ra sự khác biệt với các thương hiệu hay sản phẩm cạnh tranh. Xác định USP(Unique Selling Point) là một công việc vô cùng quan trọng để tạo tiền đề cho sự thành công của một thương hiệu hay sản phẩm.

Một số doanh nghiệp thành công nhất trên thế giới đã ghi dấu ấn bằng cách xây dựng cho mình những hình ảnh hoặc tính cách mang tính độc đáo nhất. FedEx đặt mình trên bản đồ những hãng chuyển phát nhanh lớn nhất thế giới nhờ bảo đảm rằng các gói đồ sẽ được chuyển tới địa điểm nhận ngay trong đêm. Hay hãng Pizza Domino đã từng cam kết sẽ giao bánh Pizza trong chưa đầy 30 phút. Còn Burger King để bạn "có nó theo cách của bạn"...

Với lĩnh vực xe hơi thì các thương hiệu lớn đều có những “USP – Lợi điểm bán hàng độc nhất” của mình. Ví dụ, khi nói đến xe bền tiết kiệm nguyên liệu thì bạn sẽ nghĩ ngay đến Toyota, hoặc Volvo thì được định vị là xe có độ an toàn cao, BMW là xe sang cho cảm lái thật nhất hay Mercedes là xe sang, tiện nghi dành cho doanh nhân.

120511%20BMW%20and%20Mercedes.jpg


Lợi thế bán hàng duy nhất sẽ giúp thương hiệu nổi bật trong đám đông những thương hiệu khác. Xác định được “lợi thế bán hàng độc nhất” là một trong những điểm căn bản nhất để tạo dựng thương hiệu hay tiếp thị một sản phẩm. Mỗi khi bạn xem một quảng cáo hay một thông tin về sản phẩm mới, có lẽ câu hỏi đầu tiên bạn nghĩ đến là “liệu sản phẩm này có gì khác biệt?”, điểm khác biệt chính là USP của một sản phẩm. Nếu một sản phẩm không có điểm khác biệt USP hoặc không được truyền thông hiệu quả thì sẽ trở thành sản phẩm “me too” và khả năng thành công trên thị trường sẽ thấp hơn nhiều.

Dưới đây là một số câu hỏi để bạn xác định liệu lợi điểm của doanh nghiệp bạn có phải là “lợi thế bán hàng độc nhất” hay không?

1. Lợi thế bán hàng của bạn có độc nhất vô nhị hay không?

2. Nếu có thì theo cách nào?

3. Bạn có thể chứng minh nó một cách rõ ràng không? Bạn có những lý do hỗ trợ để thuyết phục khách hàng cho USP này.

4. Nếu bạn không độc nhất vô nhị, bạn có làm tốt hơn đối thủ cạnh tranh của mình không? Và nếu có, chính xác là điều gì khiến cho bạn tốt hơn?

5. Bạn có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ thật dễ hiểu điều khiến cho bạn tốt hơn hay khác biệt không?

6. Bạn có mang lại chất lượng—tương ứng với một mức giá nào đó hoặc bất chấp giá cả?

7. Bạn có mang lại giá trị bền vững? USP cần là một lợi thế bền vững chứ không đơn thuần là lợi thế dễ dàng mất đi trong tương lai.

8. Nếu bạn tin rằng bạn mang lại giá trị, bạn có thể diễn tả nó trong giới hạn 20 từ, nêu rõ điều gì là lợi ích không thể nghi ngờ mà bạn mang lại với mức giá cả hợp lý cho các khách hàng hài hòng?
 

BNN

Hỏa Sơn
11. Target Marketing: Marketing mục tiêu

Marketing mục tiêu là việc phát triển phối thức tiếp thị riêng cho một hoặc nhiều phân khúc thị trường. Marketing mục tiêu trái ngược với marketing đại trà, là hình thức tiếp thị một sản phẩm cho toàn bộ thị trường.

Hai điểm quan trọng khi lựa chọn phân khúc thị trường mục tiêu là độ hấp dẫn của thị trường và mức độ phù hợp của phân khúc với mục tiêu, nguồn lực hay năng lực của công ty.

Sự hấp dẫn của phân khúc thị trường mục tiêu

Một số tiêu chí để đo mức độ hấp dẫn của một phân khúc thị trường là:

- Độ lớn của phân khúc (số lượng khách hàng hay số lượng sản phẩm tiêu thụ)
- Mức độ tăng trưởng của phân khúc.
- Mức độ cạnh tranh trong phân khúc.
- Mức độ trung thành thương hiệu trong phân khúc.
- Mức chi phí tiếp thị ước tính để thâm nhập phân khúc
- Tỉ lệ thị phần cần thiết để đạt điểm điểm hòa vốn.
- Tiềm năng bán hàng tại phân khúc này
- Tỉ lệ lợi nhuận biên kỳ vọng tại phân khúc này.

Nghiên cứu thị trường là phương pháp để thu thập được các loại thông tin này. Ví dụ, thông qua việc thấu hiểu được ý định mua sắm, số lượng sản phẩm tiêu dùng, cách thức mua sản phẩm hay thời điểm mua sản phẩm… thì doanh nghiệp có thể ước lượng được tiềm năng thị trường cũng như doanh số kỳ vọng của công ty.

200511%20phan%20khuc%20thi%20truong.jpg


Có một điểm lưu ý là độ lớn của phân khúc thị trường, có nhiều phân khúc lớn không có nghĩa là doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn khi thâm nhập. Thông thường các phân khúc thị trường lớn thì sẽ có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn, mức độ cạnh tranh về giá sẽ lớn dẫn đến tỉ lệ lợi nhuận biên trên đơn vị sản phẩm sẽ không cao. Vì vậy, doanh nghiệp nên chọn phân khúc nhỏ với mức độ lợi nhuận cao hơn.

Sự phù hợp của phân khúc thị trường với doanh nghiệp

Một phân khúc thị trường hiệu quả còn được đánh giá qua mức độ phù hợp của phân khúc với những mục tiêu, chiến lược hay nguồn lực kinh doanh của doanh nghiệp. Một số khía cạnh dùng để đánh giá như:

- Liệu doanh nghiệp có thể mang đến các sản phẩm vượt trội trong phân khúc này.
- Liệu khi phục vụ phân khúc này có ảnh hưởng gì tới hình ảnh của toàn doanh nghiệp.
- Liệu có cần phải thiết lập kênh phân phối mới cho phân khúc này.
- Liệu nguồn vật lực và tài lực của doanh nghiệp có đảm bảo cho việc thâm nhập phân khúc này.
- Một phân khúc càng phù hợp với công ty, có mức độ hấp dẫn thị trường cao thì sẽ hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.

Các chiến lược lựa chọn phân khúc thị trường mục tiêu

Có nhiều chiến lược lựa chọn phân khúc thị trường mục tiêu khác nhau. Doanh nghiệp có thể tham khảo các chiến lược sau:

Một phân khúc thị trường (Single Segment): chỉ hoạt động trong một phân khúc thị trường duy nhất bằng một phối thức tiếp thị duy nhất. Chiến lược này thường phù hợp cho các công ty nhỏ có nguồn lực hạn hẹp.

Một số phân khúc chọn lọc (Selective Specialization): chọn lọc một số phân khúc thị trường để hoạt động, các phương pháp phối thức tiếp thị khác nhau sẽ được sử dụng cho các phân khúc thị trường khác nhau. Về mặt sản phẩm thì có thể giống nhau hoàn toàn hoặc khác nhau chút ít, trong một số trường hợp chỉ có kênh phân phối và thông điệp tiếp thị là khác nhau.

Chuyên môn hóa sản phẩm (product specialiation): doanh nghiệp chỉ tập trung vào một sản phẩm duy nhất và hiệu chỉnh tính năng cho phù hợp từng phân khúc thị trường mục tiêu.

Chuyên môn hóa thị trường (market specialiation): doanh nghiệp chỉ tập trung vào một thị trường mục tiêu duy nhất và phát triển nhiều sản phẩm khác nhau để phục vụ.

Bao phủ toàn thị trường (Full market coverage): doanh nghiệp hướng đến việc phục vụ toàn thị trường. Chiến lược này có thể sử dụng qua việc sử dụng một chiến lược marketing cho toàn bộ thị trường (marketing đại trà) hoặc phối thức tiếp thị khác nhau cho từng phân khúc thị trường.

Dưới đây là biểu đồ minh họa 5 chiến lược lựa chọn thị trường mục tiêu thông qua việc phân chia ra 3 phân khúc thị trường S1, S2, S3 và 3 sản phẩm P1, P2, P3.

160511%20thi%20truong%20muc%20tieu.jpg


Khi gia nhập một phân khúc thị trường, doanh nghiệp nên ưu tiên lựa chọn phân khúc nào hấp dẫn và phù hợp với năng lực của mình nhất. Khi đã có chỗ đứng trên thị trường, doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường bằng cách áp dụng chiến lược tập trung sản phẩm (Product specialization) qua việc cung ứng sản phẩm có tính năng khác nhau đáp ứng các phân khúc khác nhau, hoặc sử dụng chiến lược tập trung vào thị trường bằng việc cung ứng nhiều sản phẩm khác nhau cho cùng một thị trường.
 

BNN

Hỏa Sơn
12. Brand Awareness : Độ nhận biết thương hiệu

Nhận biết thương hiệu là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình tiến trình mua sắm và là một tiêu chí quan trọng để đo lường sức mạnh của thương hiệu. Một thương hiệu có độ nhận biết càng cào thì càng nổi tiếng và có cơ hội cao hơn được khách hàng lựa chọn.

Độ nhận biết thương hiệu được tạo nên do các hoạt động truyền thông của doanh nghiệp như: quảng cáo, PR, sự kiện, tài trợ, kích hoạt thương hiệu... Vì vậy, việc quảng bá thương hiệu cũng rất tốn kém nên việc hiểu rõ được mức độ ảnh hưởng của sự nhận biết đến tiến trình lựa chọn sản phẩm sẽ giúp cho các doanh nghiệp có được các thức xây dựng thương hiệu đạt hiệu quả cao với một chi phí hợp lý hơn.

Mức độ nhận biết thương hiệu có thể chia ra làm 3 cấp độ khác nhau. Cấp độ cao nhất chính là thương hiệu được nhận biết đầu tiên (Top of mind). Cấp độ kế tiếp là không nhắc mà nhớ (spontaneous). Cấp độ thấp nhất là nhắc để nhớ (Promt). Khi cộng gộp 3 cấp độ nhận biết thương hiệu thì ta sẽ là tổng số nhận biết nhãn hiệu.

Thương hiệu được nhận biết đầu tiên chính là thương hiệu mà khách hàng sẽ nghĩ đến đầu tiên khi được hỏi về một loại sản phẩm nào đó. Ví dụ, khi nghĩ đến tivi thì người Việt Nam thường nghĩ đến Sony đầu tiên, tương tự khi nói đến xe gắn máy thì mọi người thường nghĩ ngay đến Honda, về mạng điện thoại di động thì có thể nghĩ đến Mobifone, sữa tươi thì nghĩ đến Vinamilk... Và kết quả là Sony và Honda và các nhãn hiệu có độ nhận biết đầu tiên cao luôn là những thương hiệu được mọi người cân nhắc khi chọn lựa mua sản phẩm. Với những loại sản phẩm hay dịch vụ mà người tiêu dùng lên kế hoạch mua sắm trước khi đến nơi bán hàng thì tiêu chí thương hiệu nhận biết đầu tiên đóng vai trò rất quan trọng. Điều này được lý giải là đối với những sản phẩm đắt tiền thì người ta thường luôn lên kế hoạch cho việc mua sắm, vì vậy mà thường người mua đã lựa chọn thương hiệu mà mình sẽ mua từ trước, và thường thì thương hiệu mà họ nghĩ đến đầu tiên sẽ rất dễ được người mua chọn lựa. Một số ví dụ về sản phẩm thuộc chủng loại này như Tivi, xe máy, máy tính, điện thoại…

Thông thường khi một thương hiệu có độ nhận biết đầu tiên lớn hơn 50% thi hầu như rất khó có thể nâng cao chỉ số này. Chính vì vậy, để cải thiện chỉ số này thì đòi hỏi phải quá nhiều chi phí trong khi hiệu quả thì không được bao nhiêu nên nhiệm vụ của doanh nghiệp là nên duy trì mức độ nhận biết ở mức độ này.

Đối với các sản phẩm hàng tiêu dùng như dầu gội đầu, kem đánh răng, bột giặt… thì tổng số nhận biết thương hiệu đóng vai trò quan trọng. Tiêu chí nhận biết đầu tiên luôn luôn quan trọng nhưng đối với những sản phẩm mà người ta quyết định tại điểm mua hay mua sắm mà không hoạch định trước thì chỉ số tổng độ nhận biết luôn được doanh nghiệp quan tâm hơn. Khi một người nội chợ đi siêu thị mua sắm trong tuần thì họ thường nghĩ là sẽ mua bột giặt nhưng họ thường không hoạch định sẽ mua omo hay tide nên khi đi siêu thị đến nơi trưng bày họ đều có thể quyết định mua bất kỳ thương hiệu nào mà họ biết.

Nếu tổng độ nhận biết thương hiệu lớn hơn 90% thì rất tốt và hầu như rất khó để nâng độ nhận biết lên 100%. Chính vì vậy, chi phí cho việc quảng bá thương hiệu khi hầu hết mọi người đã biết đến thương hiệu của mình thì không hiệu quả. Doanh nghiệp chỉ nên quảng bá thương hiệu một cách không thường xuyên nhằm duy trì mức độ nhận biết này.
 

BNN

Hỏa Sơn
13. Ambient Advertising: Quảng cáo tại môi trường sống xung quanh

Ambient Advertising là một thuật ngữ trong ngành quảng cáo được sử dụng vào đầu những năm 1990 khi một số doanh nghiệp yêu cầu các đối tác quảng cáo của mình (Agency) hãy làm “một cái gì đó mới mẻ” cho họ.

Thay vì quảng cảo trên các phương tiện thông thường như billboard, báo chí, truyền hình, các đối tác quảng cáo đã bắt đầu đưa ra các ý tưởng độc đáo hơn quảng cáo trên các phương tiện “mới mẻ” hơn. Ambient Advertising có thể tạm được dịch là quảng cáo “quảng cáo tại môi trường sống xung quanh”.

Với chi phí quảng cáo qua các kênh truyền thông cổ điển này càng cao trong khi mức độ thu hút sự quan tâm của đối tượng truyền thông thì ngày càng giảm sút. Vì vậy, các nhà tiếp thị ngày càng “hứng thú” với quảng cáo ambient được ứng dụng phong phú trên nhiều phương tiện khác nhau. Ví dụ như trên xe hơi, xe đạp, taxi, xe buýt, tại cửa hàng, thang máy, công viên, trạm điện thoại, trung tâm mua sắm…

Mỗi khi các bạn phải suy nghĩ không biết mình nên sử dụng phương tiện quảng cáo nào cho hiệu quả thì Ambient Advertising có thể là một lựa chọn. Hãy làm cho mọi người phải “ngước nhìn” những ý tưởng quảng cáo đầy sáng tạo:

260511%20ambient%201.jpg

260511%20ambient%202.jpg

260511%20ambient%203.jpg
 

BNN

Hỏa Sơn
14. Brand Culture - Văn hóa thương hiệu

Các thương hiệu mạnh thường được hình thành trong một tổ chức mà nội bộ khuyến khích văn hóa thương hiệu. Một môi trường với văn hóa thương hiệu sẽ thúc đẩy tầm nhìn và hành động hướng tới việc xây dựng thương hiệu. Người đóng vai trò to lớn nhất trong việc nối kết văn hóa thương hiệu chính là CEO và lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp.

Nhân viên sẽ quyết định thương hiệu.

Ý tưởng “thương hiệu” có thể được hiểu như là “ trải nghiệm”. Một thương hiệu ngày nay là một tổ hợp các trải nghiệm và nhận thức chúng ta có được từ một thực thể nào đó. Vì thế, sẽ không ngạc nhiên khi ta nói rằng yếu tố quyết định lớn nhất cho trải nghiệm thương hiệu chính là nhân viên của doanh nghiệp đó. Dù bạn sử dụng dịch vụ hàng không, y tế, đi mua sắm,, cảm nhận về các nhân viên mà ta phải tiếp xúc sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức về thương hiệu hơn cả nhiều năm quảng cáo trên tạp chí và truyền hình.

Nhận định này đã dẫn đến một làn sóng đầu tư vào “thương hiệu nhân viên “ hay còn gọi là “thương hiệu nội bộ”, hay các công ty thương hiệu truyền thống coi là “quản lý thương hiệu”. Đặt nhân viên ở vị trí trung tâm của phương trình thương hiệu đã thay đổi cách các nhà lãnh đạo nghĩ về văn hoá doanh nghiệp và cách văn hoá này tạo nên những hành vi phù hợp và chuyển hoá các hành vi này thành trải nghiệm tốt đẹp và lâu dài của khách hàng.

Dù nhận thức là như vậy, con đường thành công dẫn đến chuỗi “nhân viên - sự phục vụ - lợi nhuận” vẫn còn rất nhiều trở ngại. Quản lý doanh nghiệp hiện tại vẫn theo phong cách chỉ đạo-và-quản lý. Phong cách của thời đại công nghiệp này đã làm nhân viên ngày nay càng lúc càng xa rời với doanh nghiệp. Đó chính là lý do tại sao mọi người thấy chương trình truyền hình “ The Office” thật vui và gần gũi; vì ta thấy những nghịch lý trong công việc và hệ thống quản lý của chúng ta tái hiện lên màn ảnh. Tệ hơn là tình trạng này trở nên trầm trọng hơn sau hơn hai năm suy thoái kinh tế với hàng loạt sa thải, giảm ngân sách, giảm lương, cắt thưởng, và thất hứa.

Nếu nhân viên cảm thấy thất vọng và xa cách trong chính cơ quan của họ thì làm sao họ có thể mang đến cho khách hàng và cả đồng nghiệp những trải nghiệm thương hiệu tốt được? Quan trọng hơn là làm sao bạn có thể xây dựng lại lòng tin và sự tận tụy với công ty để ta có thể kết hợp giữa thương hiệu và chiến lược?
 

BNN

Hỏa Sơn
15. Brand Experience: Trải nghiệm thương hiệu

Trải nghiệm thương hiệu là sự cảm nhận của khách hàng khi trực tiếp tiếp xúc thương hiệu hay sử dụng sản phẩm. Kết quả của việc tiếp xúc thực tế với thương hiệu có thể dao động từ mức rất thất vọng cho tới rất thích thú.

Khi nói về lời hứa cốt lõi của một thương hiệu, Trải nghiệm là phép thử tối thượng. Lời hứa cốt lõi nói ngắn gọn là sự đóng góp của thương hiệu làm đời sống của người sử dụng hàng hoá hay dịch vụ đó trở nên tốt đẹp hơn. Trải nghiệm thương hiệu của khách hàng sẽ quyết định sự khác biệt giữa những ấn tượng trong tâm trí của khách hàng đó về thương hiệu đó (được tạo nên bởi quảng cáo và các hình thức quảng bá thương hiệu) và thực tế sử dụng nó. Kết quả của việc tiếp xúc thực tế với thương hiệu có thể dao động từ mức rất thất vọng cho tới rất thích thú.

Trải nghiệm là phép thử thực tế nhằm xác định giới hạn giữa những điều thương hiệu nói (Quảng bá thương hiệu), và thương hiệu là gì (nhận diện thương hiệu), và những gì thương hiệu cung cấp (đóng góp của thương hiệu). Chúng ta không phân biệt mặt hữu hỉnh hay vô hình; lý tính hay cảm tính của thương hiệu. Điều cốt lõi chúng ta hướng đến là thương hiệu có thực hiện được cam kết trong suốt quá trình trải nghiệm của khách hàng và có đóng góp làm tăng chất lượng cuộc sống của người sử dụng nó hay không.

070411%20trai%20nghiem%20thuong%20hieu.gif


Thương hiệu mà chúng ta nói đến ở đây có thể là bất cứ thứ gì; từ ngôi nhà mới, một nhà hàng mới, một bịnh viện, hay một gói kẹo. Nó cũng có thể là thành phố mà bạn muốn chuyển đến, một bữa tiệc bạn sẽ tham dự, hay một công ty đang ra sức chiêu mộ bạn.
So sánh Trước và sau là một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Tại những thời điểm khác nhau và mức độ quan trọng khác nhau, chúng ta tiếp nhận những thông điệp, xây dựng ấn tượng, và tương tác với thương hiệu và sau đó là nhận được kết quả và trải nghiệm. Trong một số trường hợp, tương tác này không chỉ một lần mà có thể lặp lại nhiều lần.

Ví dụ về một nhà hàng:

Trước - Một nhà hàng mới mở trong thành phố tung ra một chiến dịch quảng cáo hấp dẫn để tạo ra một hình ảnh khác biệt nhằm thu hút khách hàng.

Sau – Có thể ấn tượng ban đầu là khung cảnh và cách bài trí đẹp; thức ăn trung bình; phục vụ kém; và giá cả cắt cổ.

Kết quả - Bạn cảm thấy thất vọng 3 điều; đầu tiên là quảng cáo không giống thực tế; thứ hai là đã tốn thời gian và tiền bạc không xứng đáng; và thứ ba, và là điều quan trọng nhất, bạn có cảm giác bạn bị lừa.

Bí quyết xây dựng thương hiệu mạnh là luôn tạo ra những trải nghiệm thương hiệu bằng hoặc cao hơn kỳ vọng của khách hàng đối với sản phẩm và thương hiệu hiệu đó. Để làm được điều này thì việc quảng bá thương hiệu cần phải đúng mức, không nên hứa quá nhiều hoặc nói quá sự thật, điều này sẽ tạo nên kỳ vọng cao hơn so với thực tế mà một thương hiệu có thể đáp ứng và sẽ dẫn tới sự thất vọng của khách hàng.
 

BNN

Hỏa Sơn
16. Brand Promise : Lời hứa thương hiệu

Lời hứa thương hiệu là những hứa hẹn của công ty về sản phẩm hay dịch vụ mà họ sẽ mang đến cho khách hàng. Lời hứa này sẽ được truyền tải bằng nhiều phương tiện truyền thông thương hiệu khác nhau.

Lời hứa thương hiệu rất quan trọng vì nó sẽ tạo ra niềm mong đợi ở khách hàng. Vì lời hứa sẽ tạo ra mong đợi, vì thế sẽ tạo ra sự quan tâm và mong muốn sử dụng thử sản phẩm và dịch vụ, vì vậy không ít công ty đã đưa ra những lời hứa “trên trời” hoặc “hứa thật nhiều và thất hứa thật nhiều”. Do đó, khi đưa ra một lời hứa thương hiệu thì công ty luôn phải cân nhắc cẩn trọng vì nếu không thực hiện được lời hứa này thì khách hàng sẽ thất vọng, mất niềm tin và có thể sẽ không sử dụng sản phẩm dịch vụ trong tương lai.

Chính vì mức độ quan trọng của lời hứa thương hiệu nên việc hứa hẹn phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin giới thiệu đến nguyên tắc đầu tiên đó là “Hứa những điều có thể thực hiện được”.

Lời hứa thương hiệu của FedEx:

FedEx - Your package will get there overnight. Guaranteed

Khi bạn sử dụng dịch vụ Fedex, bưu kiện của bạn đảm bảo sẽ được chuyển đến ngay ngày hôm sau.

fedex.jpg


Lời hứa thương hiệu của Apple:

Apple - You can own the coolest, easiest-to-use cutting-edge computers and electronics.

Khi mua sản phẩm Apple, Bạn sẽ sở hữu một sản phẩm máy tính và điện tử sành điệu, công nghệ cao và dễ sử dụng nhất.

apple-iphone-3g-01.jpg


Lời hứa thương hiệu của Mc. Donald:

Mc. Donald - an inexpensive, familiar and consistent meal delivered quickly in a clean environment​
Tại mỗi cửa hàng Mc.Donald, Bạn sẽ có bữa ăn chất lượng, vừa túi tiền, phục vụ nhanh chóng trong một môi trường sạch sẻ.​

McDonald_02.jpg


Một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng thương hiệu mạnh là luôn làm được những điều mình đã hứa. Vì vậy, một lời hứa phải đảm bảo được 2 yêu cầu là: (1) phải khuyến khích được khách hàng sử dụng sản phẩm hay thúc đẩy họ để có một hành động nào đó có lợi cho công ty; (2) lời hứa này phải khả thi vì khi đã hứa thì cần phải thực hiện được.
 

BNN

Hỏa Sơn
17. Brand Value: Giá trị thương hiệu

Giá trị thương hiệu là những lợi ích mà công ty có được khi sở hữu thương hiệu. Có 6 lợi ích chính là: có thêm khách hàng mới, duy trì khách hàng trung thành, đưa chính sách giá cao, mở rộng thương hiệu, mở rộng kênh phân phối, tạo rào cản với đối thủ cạnh tranh.

1. Thu hút thêm khách hàng mới
Công ty có thể thu hút thêm được những khách hàng mới thông qua các chương trình tiếp thị. Một ví dụ là khi có một chương trình khuyến mại nhằm khuyến khích mọi người sử dụng thử hương vị mới hoặc công dụng mới của sản phẩm thì số người tiêu dùng hưởng ứng sẽ đông hơn khi họ thấy đây là một thương hiệu quen thuộc. Lý do chính là người tiêu dùng đã tin tưởng vào chất lượng và uy tín của sản phẩm.

2. Duy trì khách hàng cũ
Sự trung thành thương hiệu sẽ giúp công ty duy trì được những khách hàng cũ trong một thời gian dài. Sự trung thành sẽ được tạo ra bởi

4 thành tố trong tài sản thương hiệu là: sự nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, thuộc tính thương hiệu và các yếu tố sở hữu khác. Chất lượng cảm nhận và thuộc tính thương hiệu cộng thêm sự nổi tiếng của thương hiệu sẽ tạo thêm niềm tin và lý do để khách hàng mua sản phẩm, cũng như những thành tố này sẽ ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng. Gia tăng sự trung thành về thương hiệu đóng vai trò rất quan trọng ở thời điểm mua hàng khi mà các đối thủ cạnh tranh luôn sáng tạo và có những sản phẩm vượt trội. Sự trung thành thương hiệu là một thành tố trong tài sản thương hiệu nhưng cũng bị tác động bởi tài sản thương hiệu. Sự trung thành thương hiệu là một trong những giá trị mà tài sản thương hiệu mang lại cho công ty.

3. Đưa ra chính sách giá cao
Tài sản thương hiệu sẽ giúp cho công ty thiết lập một chính sách giá cao và ít lệ thuộc hơn đến các chương trình khuyến mãi. Trong những trường hợp khác nhau thì các thành tố của tài sản thương hiệu sẽ hỗ trợ công ty trong việc thiết lập chính sách giá cao. Trong khi với những thương hiệu có vị thế không tốt thì thường phải sử dụng chính sách khuyến mãi nhiều để hổ trợ bán hàng. Nhờ chính sách giá cao mà công ty càng có thêm được lợi nhuận.

4. Mở rộng thương hiệu
Tài sản thương hiệu sẽ tạo một nền tảng cho sự phát triển thông qua việc mở rộng thương hiệu. Sony là một trường hợp điển hình, công ty đã dựa trên thương hiệu Sony để mở rộng sang lĩnh vực máy tính xách tay với thương hiêu Sony Vaio, hay sang lĩnh vực game như Sony Play Station… Một thương hiệu mạnh sẽ làm giảm chi phí truyền thông rất nhiều khi mở rộng thương hiệu.

5. Tận dụng tối đa kênh phân phối
Tài sản thương hiệu còn giúp cho việc mở rộng và tận dụng tối đa kênh phân phối. Cũng tương tự như khách hàng, các điểm bán hàng sẽ e ngại hơn khi phân phối những sản phẩm không nổi tiếng. Một thương hiệu mạnh sẽ hỗ trợ trong việc có được một diện tích trưng bày lớn trên kệ. Bên cạnh đó thương hiệu lớn sẽ dễ dàng nhận được hợp tác của nhà phân phối trong các chương trình tiếp thị.

6. Tạo rào cản đối với đối thủ cạnh tranh
Cuối cùng, tài sản thương hiệu còn mang lại lợi thế cạnh tranh và cụ thể là sẽ tạo ra rào cản để hạn chế sự thâm nhập thị trường của các đối thủ cạnh tranh mới. Ví dụ trong trường hợp thương hiệu xe hơi Acura, với vị trí vững chắc về chất lượng cảm nhận thì thương hiệu Acura đã có được lợi thế cạnh tranh rất lớn mà đối thủ cạnh tranh khó có thể vượt qua được. Việc thuyết phục khách hàng rằng có một thương hiệu khác có chất lượng tốt hơn Acura thì rất khó.
 

BNN

Hỏa Sơn
18. Brand Positioning: Định vị thương hiệu

Định vị thương hiệu là các cố gắng và nỗ lực của doanh nghiệp nhằm làm cho khách hàng và công chúng thấy được vị thế xác định của thương hiệu, là điều mà doanh nghiệp muốn khách hàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với thương hiệu của mình.

Định vị thương hiệu là việc chọn cho một đặc tính riêng biệt, phù hợp với tính chất của sản phẩm và đáp ứng được nhu cầu cụ thể của nhóm khách hàng. Làm được điều này thương hiệu có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầ, trở nên thân thiết và gần gũi với khách hàng hơn từ đó sẽ gia tăng khách hàng trung thành cũng như thu hút được các khách hàng mới.

Có nhiều cách định vị khác nhau, dưới đây là một số cách thức phổ biến các thương hiệu thường dùng:

Định vị theo lợi ích: nước mắm chinu: độ mặn thích hợp

Định vị theo thuộc tính & tính năng: thể hiện rõ lợi ích, công dụng của hàng hoá mang lại:

- Cotec(ximăng): biểu tượng của sự bền vững
- Triump” thời trang và hoen thế nữa
- Trung Nguyên: sự sáng tạo: phong cách đột phá
- Raidmax: diệt mọi côn trùng
- Omo: tẩy sạch và hương thơm
- Downny: hương thơm và tiết kiệm

Định vị theo đối thủ cạnh tranh: thể hiện điểm mạnh hoặc không thua đối thủ

- 7Up: tự gọi là Uncola
- Coca cola dành cho mọi người, Pepsi dành cho thế hệ mới
- Tribeco: định vị là thương hiệu giải khát không có ga,( sữa đậu nành)
- Bia Lager: thương hiệu bia tươi đóng chai đầu tiên

Định vị theo nhóm người sử dụng:

- BMW: dành cho thương nhân thành đạt
- Tiger: bia của thể thao
- Heineken: bia đẳng cấp, sang trọng
- Bột giặt Vì Dân: thu nhập thấp
- Lux: xà phòng giành cho các ngôi sao
- Foci: thời trang của các bạn trẻ năng động
- Nokia: sang trọng, đẳng cấp
- Samsung: năng động trẻ trung

Các sai lầm thường mắc phải khi định vị thương hiệu
Sai lầm cơ bản là để ý quá nhiều đến tính khác biệt của sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ mà không quan tâm đến các vấn đề quan trọng khác đó là sự tương đồng.

Chúng ta không thể phủ nhận được sự khác biệt hay đặc điểm riêng của hàng hoá sẽ có tác động nhất định, đặc biệt đối với các hàg hoá ra đời muộn, chịu nhiều áp lực. Khách hàng và người tiêu dùng luôn muốn cảm nhận sự khác biệt như là một sự cải tiến về chất lượng. Họ hào hứng với series về Sản phẩm của Omo, với sự khác biệt so với các sản phẩm khác và sự đổi mới liên tục (có thể chỉ là hình thức mẫu mã hay slogan). Như vậy sự khác biệt trong sản phẩm chưa phải là điều kiện đủ nhưng cũng đóng vai trò quan trọng.

Sự khác biệt là lợi thế để thu hút sự chú ý của người tiêu dùng và đó cũng là yếu tố để thuyết phục họ chuyển đổi từ sản phẩm đang dùng sang sản phẩm mới. Bí quyết thành công của một sản phẩm mới là tìm ra những ý tưởng chứa đựng sự khác biệt rõ ràng, có sức thuyết phục. Những miếng nhỏ có hình thù những tép cam trong chai nước cam là một ví dụ điển hình về điểm khác biệt, trước đây chưa hề có trên thị trường.

Sự khác biệt được đánh giá khi người tiêu dùng cảm thấy khác biệt trong đánh giá khi sử dụng sản phẩm. Vì thế nó cần được “truyền “đến người tiêu dùng để nhận biết và cảm nhận. Ngay cả những sự khác biệt dễ nhìn thấy như màu sắc của một loai bia mới, hoặc dễ cảm nhận bằng các giác quan như mùi, vị, màu sắc, hình dáng… cũng phải được nhấn mạnh, làm cho dễ thấy, dễ biết và được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần thì mới “thấm” vào trong tâm trí người tiêu dùng. Đối với những sự khác biệt khó hoặc không thể cảm nhận được bằng các giác quan thông thường (ví dụ như dược tính, độ dinh dưỡng, lợi ích đặc biệt nào đó…) lại càng phải được thông tin một cách công phu và tỉ mỉ hơn.

Một điều nữa là hiện có nhiều người đang “đổ xô” đi tìm sự khác biệt và nhấn mạnh về nó như là một cứu cánh để tránh thất bại. Tuy nhiên, marketing cũng có những logic căn bản của nó. Sự khác biệt là điều thú vị, nhưng cũng có lúc nó lại là điều kỳ cục, không giống ai. Nếu quá chú trọng vào điều khác biệt mà quên đi điểm tương đồng (Points Of Parity - POP), một sản phẩm mới có thể chỉ dừng lại ở việc thử trí tò mò của một số ít người tiêu dùng mà thôi. Còn đa số người tiêu dùng khác sẽ nhìn sản phẩm mới này với sự hồ nghi: “Nó là cái gì vậy, sao không giống ai hết vậy?”.

Chai nước cam có sự khác biệt là những tép cam bên trong, nhưng nó vẫn là một loại nước giải khát chứ không phải là một chai thuốc bổ. Nếu những tép cam này được tuyên truyền như là một loại thuốc bổ thì liệu có mấy ai mua để dùng thử? Như vậy, điểm tương đồng ở đây là tác dụng giải khát, thỏa mãn cơn khát, giống như những loại thức uống tương tự.

Sự kết hợp giữa điểm tương đồng và điểm khác biệt sẽ làm nổi bật ưu thế của sản phẩm mới, thương hiệu mới. Trong lịch sử marketing, nhiều công ty đã tung ra các sản phẩm mới không chỉ với điểm khác biệt mà còn có các điểm tương đồng được tính toán rất kỹ. Các điểm tương đồng này có vai trò cân bằng, triệt tiêu hoặc phủ nhận điểm khác biệt của sản phẩm cạnh tranh.

Ví dụ:

Trong những năm 80 của thế kỷ trước, thị trường Mỹ có hai dòng ô tô với hai lợi thế khác biệt rõ rệt - một loại thiên về đặc tính sang trọng, một loại thiên về hiệu năng sử dụng. Xe sang trọng thì hiệu năng sử dụng không cao; ngược lại, xe có hiệu năng cao thì lại không sang trọng. Nắm được điều này, hãng ô tô BMW của Đức đã đưa vào thị trường Mỹ một dòng xe có cả hai yếu tố này, vừa sang trọng, vừa có hiệu năng sử dụng rất cao. Đối với dòng xe sang trọng tại Mỹ, thì hiệu năng sử dụng của chiếc BMW mới vào là điểm khác biệt, còn sự sang trọng của nó lại là điểm tương đồng.

Đối với dòng xe hiệu năng, thì sự sang trọng của chiếc BMW là điểm khác biệt, trong khi hiệu năng sử dụng của nó lại là điểm tương đồng. Hay một thí dụ khác, khi hãng bia Miller tung ra loại bia Miller Lite có điểm tương đồng với các loại bia khác là “it tastes great” (hương vị tuyệt vời), nhưng nó có điểm khác biệt là “one-third less calories” (năng lượng ít hơn một phần ba).

Các giám đốc tiếp thị khôn ngoan sẽ sử dụng các điểm tương đồng để triệt tiêu, phủ nhận các điểm khác biệt của đối thủ. Cái mà anh có, tôi cũng có thì không còn gì khác biệt nữa. Ngoài ra, họ còn tận dụng các điểm khác biệt của mình để làm lợi thế cạnh tranh.

Như vậy, vấn đề không chỉ dừng lại ở điểm khác biệt mà còn phải biết khai thác những điểm tương đồng - vốn rất dễ tìm để triệt tiêu thế mạnh của đối thủ. Sự kết hợp hài hòa và khôn ngoan giữa hai điểm này sẽ đem lại thành công cho các chiến dịch tiếp thị.
 

BNN

Hỏa Sơn
19. Slogan : Khẩu hiệu thương mại

Slogan - khẩu hiệu thương mại, nguyên nghĩa cổ là tiếng hô trước khi xung trận của những chiến binh Scotland. Ngày nay trong thương mại, slogan được hiểu như là khẩu hiệu thương mại của một công ty. Slogan thường được coi là một phần tài sản vô hình của công ty dù rằng nó chỉ là một câu nói.

Để có được một slogan hay, ngoài việc đầu tư về chất xám còn phải có sự đầu tư về quảng cáo liên tục với những chiến lược dài hạn. Chính vì vậy, khi có được một slogan đứng được trong tâm trí khách hàng, slogan đó đã trở thành một tài sản vô giá được vun đắp bằng thời gian, tiền bạc và uy tín của công ty.

Tùy theo theo từng quốc gia, từng khu vực, thuật ngữ “khẩu hiệu” (slogan) được gọi theo các cách khác nhau.

- Tại Mỹ, “khẩu hiệu” (slogan) còn được gọi là tags, tag lines, hay taglines.

- Tại Anh, “khẩu hiệu” được gọi là end lines, endlines, hay straplines.

- Người Đức ưa thích từ “claims” (thỉnh cầu) hơn, trong khi người Pháp sử dụng từ “signatures” (ký hiệu).

- Tại Hà Lan, “khẩu hiệu” (slogan) được gọi là pay-offs hay payoffs. Không chỉ có vậy, có nơi “khẩu hiệu” (slogan) được biết đến với cái tên rip-offs hay ripoffs. Và tại hãng ADSlogans Unlimited, “khẩu hiệu” (slogan) được gọi là slogos (khẩu hiệu bên cạnh logo).

Các khẩu hiệu kinh doanh thường được xem như nhãn hiệu hàng hoá (™ tại phần lớn các quốc gia). Cách sử dụng biểu tượng ™ đơn thuần là một sự xác nhận của nhà quảng cáo rằng họ đang xem xét dòng chữ này như một nhãn hiệu riêng. Nó không đảm bảo bất cứ quyền lợi hợp pháp nào. Để được bảo vệ về mặt pháp lý, khẩu hiệu kinh doanh phải được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Việc này sẽ tạo ra cho công ty quyền được sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký (®), và sau đó có được sự bảo vệ hoàn toàn về mặt pháp luật trong các vụ kiện tụng. Nhìn chung, luật nhãn hiệu tại các quốc gia là tương tự nhau (bạn có thể kiểm tra chi tiết tại Hiệp hội nhãn hiệu quốc tế International Trademark Association)

Thương hiệu có thể là một nhãn hiệu đã đăng ký, chẳng hạn như Kodak, Xerox, McDonald's, 7Up, hay Coke, nhưng những dòng chữ kiểu như “Your best bet yet!” (Sự đặt cược tốt nhất của bạn) có thể không được bảo vệ độc quyền. Để tránh những rắc rối phát sinh, và khi còn thắc mắc, bạn hãy liên hệ với các luật sư về sở hữu trí tuệ.

Những lưu ý khi xây dựng một slogan

1. Thứ nhất là mục tiêu.

Một slogan khi được tung ra phải mang một mục tiêu nhất định và hướng đến mục tiêu đó. Ví như khi Pepsi ra đời thì Coca Cola đã là một người khổng lồ trong ngành giải khát rồi. Muốn phát triển được thì phải có một slogan nhắm đến một mục tiêu là lấy lại được thị phần từ Coca Cola. Hãng nước giải khát Pepsi đã lấy slogan là: "Generation Next" (Thế hệ tiếp nối), ý nói đó là một loại nước uống của thế hệ mới và ngầm ý chê bai đối thủ trực tiếp Coca Cola là loại đồ uống cổ lỗ sĩ. Với slogan hay mang trong mình mục tiêu rõ ràng là đánh vào khách hàng trẻ tuổi, Pepsi đã thu hút được phần đông giới trẻ và vươn vai trở thành một đối thủ đáng gờm của Coca Cola.

2. Thứ hai là ngắn gọn.

Một slogan hay luôn phải là một slogan ngắn gọn, dễ hiểu, dễ đọc. Với nhiệm vụ phải đi vào tiềm thức của khách hàng, không ai đi xây dựng một slogan đầy đủ toàn bộ về tính năng, tác dụng, điểm ưu việt của sản phẩm cả, bởi khách hàng sẽ chẳng ai bỏ công đi nhớ một slogan dài lê thê như vậy. Cà phê Trung Nguyên đã phải bỏ slogan dài cũ: "Mang lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới" bằng "Khơi nguồn sáng tạo". Quả thực slogan sau ngắn gọn, ấn tượng và dễ nhớ hơn nhiều.

3. Thứ ba là không phản cảm.

Slogan phải tuyệt đối tránh những từ ngữ có thể gây phản cảm hoặc xúc phạm đến người khác cho dù đó chị là một bộ phận khách hàng rất nhỏ. Nhà cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh DHL đã từng mắc lỗi này khi tung ra một slogan gây một ấn tượng không tốt: "Đến chậm gặm xương".

4. Thứ tư là cần nhấn mạnh vào lợi ích sản phẩm.

Slogan phải thể hiện được tính năng và lợi ích khi khách hàng sử dụng sản phẩm. Ví như: "Connecting People" (Kết nối mọi người) của hãng điện thoại di động Nokia hay "Luôn luôn lắng nghe. Luôn luôn thấu hiểu" của hãng bảo hiểm quốc tế Prudential.

Tuy nhiên những điều kiện trên chỉ là những điều kiện cơ bản. Một slogan thành công phải mang trong mình thông điệp ấn tượng và khơi gợi được trí tưởng tượng của khách hàng về sản phẩm của mình.

Hãng đồ thời trang quần áo lót phụ nữ Victoria Secret đã có một slogan rất hay bằng một câu hỏi: "What is ***y?" (Gợi cảm là gì?).
Sản phẩm đồ thể thao của tập đoàn Nike cũng được cất cánh cùng với một slogan được đánh giá là thành công nhất mọi thời đại: "Just Do It!" (Hãy làm điều đó!).

Thế nào là một câu slogan hoàn hảo

Trước tiên, nó phải dễ nhớ, nghĩa là khẩu hiệu có thể được gợi lên trong tâm trí mọi người bất cứ lúc nào. Điều này phần lớn dựa vào việc bản sắc thương hiệu và khẩu hiệu được sử dụng bao nhiêu lần trong năm. Tuy nhiên, nếu khẩu hiệu kinh doanh là hoàn toàn mới, điều gì sẽ khiến nó được khắc sâu trong tâm trí mọi người? Đó chính là nó cần được nhắc đi nhắc lại trong các chương trình quảng cáo. Khẩu hiệu càng tạo ra tiếng vang bao nhiêu, thì nó càng dễ nhớ bấy nhiêu.

Một khẩu hiệu thành công cũng nên gợi nhớ đến tên thương hiệu. Nếu tên thương hiệu không có mặt trong khẩu hiệu, nó nên được đề cập hay liên tưởng tới. Nike đã “mạo hiểm” dành cả một chương trình quảng cáo chỉ miêu tả duy nhất có hình ảnh biểu tượng. Từ Nike không được nói ra và cũng không xuất hiện. Cách thức ký hiệu học này sẽ có tác dụng rất lớn, bởi vì nó buộc người xem phải nói ra tên nhãn hiệu.

Một khẩu hiệu tốt sẽ không để đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng dễ dàng. Khẩu hiệu của bạn không nên để bất kỳ ai có thể thay tên nhãn hiệu của họ vào và sử dụng luôn. Ví dụ, khẩu hiệu “My goodness, my Murphy's!” (lấy cắp từ khẩu hiệu Guinness) sẽ không thể được sử dụng, nhưng khẩu hiệu “A company called TRW” (Công ty được gọi là TRW) có thể trở thành “A company called …” (Công ty được gọi là … bất cứ thứ gì).

Một khẩu hiệu tốt cần thể hiện rõ những ích lợi chủ yếu. “Engineered like no other car in the world” (Động cơ không có ở bất cứ xe hơi nào khác trên thế giới) là khẩu hiệu thành công của hãng Mercedes-Benz. “'s second-largest international scheduled airline” (Hãng hàng không quốc tế lớn thứ hai tại Anh) cũng là một khẩu hiệu tốt của hãng Air Europe.
Thêm vào đó, một khẩu hiệu tốt nên làm cho thương hiệu của công ty trở nên khác biệt. “Heineken khơi mở lại phần mà các nhãn hiệu khác không thể với tới” là một khẩu hiệu thông minh. Đây là một khẩu hiệu đã ra đời từ rất sớm. Khi có yêu cầu cần làm mới lại, nó đã được mở rộng và thể hiện những tình huống khác nhau, chẳng hạn như con đường thênh thang đi qua sa mạc vào giờ cao điểm với khẩu hiệu “Chỉ duy nhất Heineken có thể làm được điều này” và sau này là những tình huống tưởng chừng như không thể nhưng rất lôi cuốn, chẳng hạn như một nhóm các kỹ sư môi trường thì thầm với nhau: “How refreshing! How Heineken!” (Mát lạnh tuyệt vời! Heineken tuyệt vời!).

Dưới đây là 10 slogan được đánh giá là hay nhất trong lĩnh vực quảng cáo tiếp thị:

1. Just do it (Nike) – Cứ làm đi
011210%20nike%20just-do-it12795308634199.jpg


2. Got Milk? (American Dairy Association) – Bạn đã uống sữa chưa?
011210got-milk12795308634067.jpg


3. Think different? (Apple) – Nghĩ khác
011210%20think-different127953086345015.jpg


4. They’re G-r-r-r-eat! (Frosted Flakes) – Ngon tuyệt
011210%20theyre-grrreat127953086344914.jpg


5. Be all you can be. US Army - Hãy là tất cả những gì bạn muốn
011210%20army-recruiting-ad12795308633893.jpg


6. Good to the last drop (Maxwell House) – Thơm ngon đến giọt cuối cùng
011210%20maxwell-house127953086344211.jpg


7. We try harder (Avis) – Chúng tôi cố gắng hơn
011210%20best-ad-slogans12795308633984.jpg


8. It keeps going and going and going (Energizer) – Hoạt động liên tục liên tục
011201%20energizer-bunny12795308634006.jpg


9. Melts in your mouth, not in your hands. – Tan trong miệng, không tan trong tay
011210%20melts-in-your-mouth-not-in-your-hands127953086344312.jpg

10. Diamonds are forever (DeBeers) – Kim cương là vĩnh cửu
011210%20a-diamond-is-forever12795308633591.jpg
 

BNN

Hỏa Sơn
20. Relationship Marketing : Marketing mối quan hệ

Là việc tìm hiểu nhu cầu cũng như cập nhật thường xuyên với từng khách hàng riêng biệt về thông tin của sản phẩm dịch vụ. Qua cách thức truyền thông 2 chiều này sẽ mang lại lợi ích cho cả công ty và khách hàng, vì vậy sẽ tạo được mối quan hệ gắn kết lâu dài.

Ngày nay, các doanh nghiệp dịch vụ xem việc giữ chân khách hàng trở thành một chiến lược chủ lực, phản ánh tầm nhìn dài hạn. Với xu hướng cạnh tranh ngày càng cao, chi phí để thu hút một hách hàng mới gấp năm hay sáu lần chi phí giữ chân một khách hàng cũ. Vì vậy, các doanh nghiệp ngày càng chú trọng vào việc cung ứng dịch vụ hướng vào khách hàng hiện có đồng thời xây dựng và thực hiện marketing mối quan hệ (Relationship marketing).

Yếu tố xây dựng mối quan hệ khách hàng.

Để một người trong tương lai có thể trở thành khách hàng hay đối tác của doanh nghiệp, quá trình xây dựng mối quan hệ trải qua bảy giai đoạn theo thời gian: thu hút thiết lập tạo dựng, phát triển, duy trì, củng cố và trung thành. Mối quan hệ sẽ được tạo lập trên các yếu tố chủ yếu như sau: sự tin tưởng, sự thỏa mãn của khách hàng, giá tri mang lại, truyền thông hiệu quả và mối ràng buộc xã hôi.

Sự tin tưởng được xem là yếu tố chủ yếu trong mối quan hệ. Niềm tin của khách hàng thường đặt vào thả năng của doanh nghiệp, mức độ thành thạo và đến thức của nhân viên. Khách hàng thường rất dễ bị dao động và gặp rủi ro, vì vậy tin tướng là một yếu tố quan trọng giúp khách hàng và doanh nghiệp tiếp tục duy trì giao dịch.

Sự thỏa mãn của khách hàng: Không mấy khách hàng đang hài lòng với dịch vụ lại quay lưng với thương hiệu. Đó là lý do yếu tố này luôn phải được quan tâm đặc biệt trong suốt thời gian hoạt động của doanh nghiệp.

Giá trị mang lại trong mối quan hệ được xác định qua khoảng cách giữa lợi ích nhận được và chi phí bỏ ra. Khách hàng trung thành thường mong đợi một mức giá công bằng, nhưng vẫn luôn đòi hỏi các giá trị từ mối quan hệ như: được trân trọng, được nhận diện là khách hàng thường xuyên ngay khi mới bước vào khu vực giao dịch của doanh nghiệp, tin tưởng nhân viên thấu hiểu và tạo ra các giao dịch có lợi cho mình.

Truyền thống hiệu quả được hiểu là các hình thức chia sẻ thông tin chính thức hoặc không chính thức giữa khách hàng và nhân viên. Việc truyền thông tốt bao gồm cả việc chuyển tải sự cảm thông, đáp ứng nhu cầu nhanh chóng, hiểu rõ sản phẩm cung ứng sẽ duy trì và nuôi dưỡng mối quan hệ này.

Mối ràng buộc xã hội hay còn gọi là "tình bằng hữu” dẫn đến mức cam kết trong mối quan hệ rất cao. Sự trao đổi thông tin về các vấn đề xã hội nằm ngoài phạm vì những giao dịch kinh doanh sẽ tạo nên sự ràng buộc thân thiết giữa khách hàng và doanh nghiệp. Chính điều này sẽ tạo ra sự cam kết quan hệ lâu dài của khách hàng.

Các phương pháp marketing mối quan hệ

Marketing mối quan hệ có bốn phương pháp thực hiện: gửi thư trực tiếp (direct mail), marketing trực tiếp (direct marketing), marketing dữ liệu (data marketing) và quản trị mối quan hệ khách hàng (customer relationship management).

Gửi thư trực tiếp hoặc marketing qua điện thoại là cách marketmg mối quan hệ dựa trên sử dụng cơ sở dữ liệu có sẵn để thông tin một chiều đến khách hàng. Phương pháp này thường sử dụng như một công cụ chiêu thị với mục đích ngắn hạn.

Marketing trực tiếp cũng phát triển từ phương pháp nêu trên, nhưng chú trọng vào các hoạt động chiêu thị dễ quản trị và sinh lời hơn. Phương pháp này liên quan nhiều đến chiến thuật truyền thông marketmg và chào bán (cross selling) những mặt hàng khác của doanh nghiệp mà khách hàng chưa từng mua.

Marketing dữ liệu là phương pháp sử dụng công nghệ thông tin trong toàn hệ thống của doanh nghiệp nhằm thu thập và lưu trữ các dữ liệu liên quan đến cá nhân khách hàng trong quá khứ, hiện tại và khách hàng tiềm năng. Việc duy trì thể thống nhất của nguồn dữ liệu đó cho phép liên tục kiểm soát động thái khách hàng, truy nhập cho dữ liệu khách hàng cho từng tình huống giao dịch cụ thể đẩy mạnh các giao dịch cá nhân và tạo mối quan hệ với khách hàng. Cơ sở dữ liệu sẽ là nguồn thông tin đáng tin cậy giúp doanh nghiệp "nhớ" đến khách hàng và đưa ra các chương trình xây dựng lòng trung thành một cách hiệu quả nhất cũng như có thể đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của từng khách hàng.

Quản trị mối quan hệ khách hàng (CRM) được xem là kênh truyền thông cá nhân bao gồm giao dịch trực tiếp, gửi thư, gọi điện thoại và giao lịch qua lnternet. Cụ thể hơn, CRM là hinh thức marketing mối quan hệ dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin và marketing cơ sở dữ liệu (database marketing), qua một phần mềm bao hàm cả cấu trúc tổ chúc hệ thống văn hóa doanh nghiệp và nhân viên. CRM được xem là một chiến lược chọn lựa và quản trị các mối quan hệ giá trị cho doanh nghiệp, yêu cầu hướng dẫn đến khách hàng và cung cấp các quá trình cung ứng dựa trên triết lý marketing một cách hiệu quả.
 

Facebook Comment

Similar threads
Thread starter Tiêu đề Diễn đàn Trả lời Ngày
bachsa [Sổ tay] Danh mục thuật ngữ Thư viện - Sổ tay 0
bachsa [Sổ tay] Chú giải các thuật ngữ kinh tế - Khái quát về nền kinh tế Mỹ - Kho sách online Thư viện - Sổ tay 0
bachsa Danh sách thuật ngữ sở hữu trí tuệ-Kho sách sở hữu trí tuệ trực tuyến Xây dựng thương hiệu 1
BNN [Tư vấn] Thuật ngữ “Phân khúc nhu cầu” Marketing 0
BNN Photography Glossary - một số thuật ngữ nhiếp ảnh Kinh nghiệm săn ảnh 28
SongHan Memory-Ram-Một Số Thuật Ngữ Kỹ Thuật Phần cứng 1
N Các chỉ báo kỹ thuật cơ bản trong forex và chứng khoán trên sàn giao dịch ngoại hối forex GIAO LƯU - BÀN LUẬN 0
L [Khác] Phẫu thuật nâng ngực là gì và những điều cần biết QUẢNG CÁO - RAO VẶT 0
L [Khác] Phẫu thuật nâng ngực có nguy hiểm không? QUẢNG CÁO - RAO VẶT 0
L [Khác] Phẫu thuật nâng ngực ở đâu đẹp và an toàn? QUẢNG CÁO - RAO VẶT 0
L [Khác] Tìm hiểu phẫu thuật nâng ngực có đau không? QUẢNG CÁO - RAO VẶT 0
P [Sản Phẩm] Cắt mí bao lâu hết sưng và đẹp tự nhiên không phẫu thuật Website - Blog 0
U Làm đài phun nước nghệ thuật đẹp chất lượng Tin dịch vụ 1
C [Sức khỏe] Đà Nẵng: Bắt đầu phẫu thuật tái tạo bộ phận sinh dục cho trẻ em Tin tức 24h 0
C [Đà Nẵng] 30-6, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật phía Đông cầu Rồng Tin tức 24h 0
zoromask Hướng tới Worldcup 2014: Những kỹ thuật lừa bóng siêu đỉnh trong bóng đá Tin Thể thao 24h 0
S [Việc Làm] Tuyển NV tường thuật bóng đá tại Đà Nẵng và các tỉnh lân cận Giáo dục - Việc làm 2
zoromask Hướng tới Worldcup 2014: Những màn trình diễn kỹ thuật đặc sắc trong bóng đá Tin Thể thao 24h 0
BNN [Trường học] Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược tại Đà Nẵng Địa chỉ Đà Nẵng 0
zoromask Hướng tới Worldcup 2014: Những bàn thắng đẹp và kỹ thuật của Goran Pandev Tin Thể thao 24h 0
lehieu91 Hướng tới Worldcup 2014: Kỹ thuật và những bàn thắng đẹp mắt của Robin Van Persi Tin Thể thao 24h 0
zoromask Hướng tới Worldcup 2014: Kỹ thuật và những bàn thắng đẹp mắt của van Persie Tin Thể thao 24h 0
C [Đà Nẵng] Bệnh viện Đà Nẵng nhận máy chụp mạch kỹ thuật số xóa nền 26 tỷ đồng Tin tức 24h 0
C [Đà Nẵng] "Kỹ thuật không cho phép làm đầu rồng ngẩng cao" Tin tức 24h 0
C [Xã hội] Bệnh Viện ung thư DN Phẫu thuật thành công khối u nặng 1,2kg Tin tức 24h 0
minhdan0001 Xăm 3D nghệ thuật TATTOO MR.BO Du lịch - Mua sắm 32
C [Đà Nẵng] Thông số kỹ thuật cầu rồng Tin tức 24h 0
BNN [Marketing] Nghệ thuật typography trong thiết kế quảng cáo Quảng bá thương hiệu 0
BNN [Thương hiệu] Nghệ thuật thiết kế logo ẩn các con số Thiết kế Thương hiệu 0
BNN [Thương hiệu] Logo thư pháp - Nghệ thuật về viết chữ Thiết kế Thương hiệu 0
BNN [Thương hiệu] Nghệ thuật thiết kế logo chữ số Thiết kế Thương hiệu 1
BNN [Thương hiệu] Logo ẩn với thủ thuật thiết kế âm bản Thiết kế Thương hiệu 0
BNN [Thương hiệu] Ambigram logo: Đỉnh cao của nghệ thuật logo chữ Thiết kế Thương hiệu 0
BNN [Thương hiệu] Danh thiếp và nghệ thuật sử dụng font chữ Thiết kế Thương hiệu 0
BNN [Thương hiệu] “Quán triệt” chiến thuật đa thương hiệu Chiến lược thương hiệu 0
BNN [Thương hiệu] Chiến thuật sử dụng khi tái tung thương hiệu Chiến lược thương hiệu 0
BNN [Thương hiệu] 33 Bí quyết và Chiến thuật đặt tên thương hiệu Xây dựng thương hiệu 0
Viết Sang Thủ thuật tắt máy tính từ menu chuột phải trên Windows 8 Thủ thuật - Mẹo vặt 0
Viết Sang Thủ thuật lưu trữ nhanh hình ảnh, âm thanh và video về Google Drive Thủ thuật - Mẹo vặt 0
rcp [Ảnh nghệ thuật] Những bức ảnh pháo hoa chụp bằng kỹ thuật phơi sáng dài tuyệt đẹp Ảnh của n/t nhiếp ảnh 2
T Tài liệu cấu trúc dữ liệu giải thuật căn bản Kho download 0
T Thủ Thuật Tải Nhạc Chuông Miễn Phí Thủ thuật - Mẹo vặt 1
C Cần tuyển kỹ thuật phần cứng điện thoại Máy tính - Điện thoại 27
F [Nhà Đất] Kỹ thuật hay nhất khi chơi tiến lên Website - Blog 0
hanlong [Thể thao] Giao lưu võ thuật cổ truyền Việt Nam với Cộng hòa liên bang Đức Tin tức 24h 0
S KỸ THUẬT TẠO HÌNH TRONG NHIẾP ẢNHTrong các ngành nghệ thuật tạo hình như hội hoạ Kỹ năng xử lý ảnh 2
T [Kiến thức] Hướng dẫn phân tích kỹ thuật trong chứng khoán Chứng khoán Đà Nẵng 1
T [Tin tức] Video Marketing - Thủ thuật quảng bá thương hiệu trên Youtube Kiến thức kinh doanh 0
S 10 Kỹ Thuật chụp ảnh với nước Kỹ năng xử lý ảnh 0
B Sự thay đổi thuật toán tìm kiếm trong Google CLB TIN HỌC 0

Similar threads

Top