* Phàn nàn của Nhà quản lý về người lao động :
Cả nhà quản lý lẫn người lao động đều mong có một cách đánh giá về tính hiệu quả công việc. Qua thực tiễn tại doanh nghiệp, nhà quản lý thường phàn nàn về người lao động trong doanh nghiệp mình. Điều này thường do người lao động Việt Nam hiện nay còn thiếu rất nhiều yếu tố để đáp ứng được yêu cầu của công việc hiện tại, đa số không đảm bảo các yêu cầu về lao động đúng như hợp đồng lao động. Vì vậy, nhiều nhà quản trị nhân sự đều cho rằng tiền lương trả cho người lao động không thể coi là chi phí cho một khối lượng sức lao động xác định cố định theo tháng mà là một khoản đầu tư cho con người mà nếu quản lý nhân sự tốt thì đem lại lợi nhuận to lớn lâu dài, còn nếu quản lý không tốt thì có thể là khoản đầu tư càng lâu càng lỗ dài. Nhìn nhận được những khó khăn này về khai thác nguồn nhân lực, các nhà quản lý và người lao động có thể sẽ tìm ra biện pháp khắc phục những điểm yếu về nhân lực trong doanh nghiệp mình.
Dưới góc độ yếu kém của người lao động có thể thấy nguyên nhân gốc rễ là từ trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng và có thể cả lương thấp hay chuyện riêng… Tuy nhiên, họ cũng cần hiểu là năng lực, kỹ năng hay chuyện riêng không thể một sớm một chiều cải thiện được. Vì vậy họ cần khoảng thời gian dài để nỗ lực khắc phục. Sự tự nhận thức và thay đổi cách lao động là phần việc thuộc trách nhiệm của chính người lao động. Càng lao động nhiều, trực tiếp trong nền kinh tế thị trường thì điều kiện nhận thức và học hỏi càng nhanh: trình độ cao thấp, đúng sai, hơn kém, tốt xấu, tiến bộ hay lạc hậu, tích cực hay tiêu cực càng bộc lộ nhanh và rõ hơn. Người lao động chỉ cần ý thức về mình và có tinh thần cầu thị, mong tiến bộ và chăm học hỏi là có thể hoàn thiện được bản thân.
Theo ông Vũ Tuấn Anh, Viện Kinh tế Việt Nam, tình trạng phổ biến, khá nổi cộm của người lao động Việt Nam là tình trạng “3 không”: không có nghề, không biết ngoại ngữ, không có tác phong công nghiệp. Thông thường, sau một quãng thời gian, nhà quản lý có đủ thông tin và có thể tiến hành đánh giá được từng người lao động. Việc đánh giá căn cứ tổng hợp từ các yếu tố sau: hành vi, thái độ lao động; Tổng khối lượng công việc đã hoàn thành; Chất lượng thực hiện các công việc; Các trình độ thể hiện của người lao động khi lao động…
Dựa theo các yếu tố đánh giá, nhà quản lý cũng thường không hài lòng ở người lao động những điều tương tự như thế:
1- Hành vi, thái độ, tác phong, ý thức lao động: Thái độ lao động được thể hiện qua tinh thần cầu tiến, năng lực chịu trách nhiệm và tính kỷ luật của người lao động. Ý thức lao động thể hiện ở chỗ người lao động nhận thức lúc nào anh ta có nghĩa vụ lao động (hay là chỉ lao động khi có mặt người kiểm tra/người giám sát), có được tự ý lãn công như đã cam kết không? Nâng cao năng suất, chất lượng công việc là trách nhiệm của ai… Tình trạng vi phạm quy định lao động, nội quy công ty vẫn diễn ra phổ biến tại Việt Nam.Người có thái độ lao động thờ ơ, vô trách nhiệm với công việc, cho dù kiến thức sâu rộng, kỹ năng thành thục cũng sẽ không có cơ hội thăng tiến và sớm muộn sẽ bị đào thải khỏi tổ chức.
2- Không đảm bảo cam kết về thời gian lao động: đi muộn về sớm, nghỉ việc riêng nhiều, tận dụng thời gian là làm việc riêng với công cụ lao động được công ty cung cấp, tụ tập đàn đúm ngay trong giờ làm. Khi làm việc độ tập trung thấp, ít chú tâm dài vào một việc, làm ít đơn vị công việc trong thời gian dài…
3- Kết quả lao động trong một khoảng thời gian lao động thấp:
a. Không đảm bảo về khối lượng công việc: muộn hợp đồng, làm dưới ngưỡng trình độ/ khả năng… Rất nhiều người lao động chưa đạt yêu cầu về năng lực chuyên môn, hổng rất nhiều những kỹ năng, kiến thức cần cho lao động. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải tiếp tục đầu tư, đào tạo thêm nghiệp vụ cho họ. Anh Trọng Hưng, Cty Vital nói: “Nhiều LĐ trẻ đi xin việc mà không biết nên làm việc gì. Họ đến các sàn giao dịch việc làm chỉ để tham khảo, để biết bởi họ rất yếu về kiến thức chuyên môn cần có cho vị trí ứng tuyển. Nhiều em khi được hỏi về kiến thức căn bản không trả lời được. Vì vậy, nhà trường cần chú trọng đào tạo nghề cho các em”.
b. Không đảm bảo về chất lượng công việc: không quan tâm đến chất lượng, không biết đến hoàn hảo là gì (nhiều người cứ được đòi hỏi về chất lượng mới quan tâm đến chứ không coi cứ có việc là đương nhiên có đòi hỏi chất lượng như một cuộc ‘ thi tuyển ở nhà trường ‘ – không có chất lượng là không được!), để sót nhiều lỗi gây tăng chi phí, mất thêm công khắc phục hậu quả chủ quan, doanh nghiệp tuột mất cơ hội kinh doanh.
4- Làm việc nhóm, truyền thông, kỹ năng sống… không tốt: Rất nhiều kỹ năng mềm khác nhau cần thiết cho lao động của mỗi cá nhân như: kỹ năng sống (tuân thủ văn hóa chung), kỹ năng giao tiếp hiệu quả, trình độ ngoại ngữ, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, thư giãn (biết cách dồn sức và thả lỏng), vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới… người lao động chưa làm chủ được. Hầu hết sinh viên Việt Nam đều thiếu hụt những kỹ năng này do nhà trường chỉ tập trung đào tạo về mặt kiến thức sách vở mà bỏ qua những kỹ năng sống cần thiết. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thích nghi với thực tế và chất lượng công việc. Họ cần một khoảng thời gian và sự nỗ lực không nhỏ để tự bù đắp.